VÔ THƯỜNG

Danh ngôn về cuộc sống

Tài nguyên dạy học

Hổ trợ trực tuyến

  • (Vô Thường)
  • (ntn_dau)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Ảnh ngẫu nhiên

Img720a.jpg Img731a.jpg Img726a.jpg Img718a.jpg F4.jpg F3.jpg F2.jpg F1.jpg IMG_1044.jpg IMG_1082.jpg Media_icon 421.jpg T13.png Me4.jpg A5.jpg A3.jpg A2.jpg 2016.jpg A1.jpg Nh.jpg

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Vô Thường.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Tư liệu dành cho lớp 9 >

    KỂ LẠI TRẬN CHIẾN ÁC LIỆT

     

     http://movie.zing.vn/Movie/resources/images/phim-dien-anh/1927/gallery/source/nga-ba-dong-loc-56953.jpg

    "Dấu tích con đường nay đã bị cây cối, nhà cửa che lấp", ông Cẩm nói
    Có những sự kiện viết lên trang sử mới. Sự kiện Ngã ba Đồng Lộc, Hà Tĩnh đã đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam như một địa danh huyền thoại, là tượng đài về ý chí sắt đá và sự hy sinh cao cả của 10 cô gái trẻ cũng như lực lượng thanh niên xung phong trong cả nước. Lễ kỷ niệm 40 năm Huyền thoại Ngã ba Đồng Lộc đã được tổ chức từ 16-24/7/2008 bằng một chương trình hoành tráng, tôn nghiêm. Lễ kỷ niệm cũng là ngày hội dành cho lực lượng thanh niên xung phong 40 năm về trước cùng hội ngộ nhớ về một thời máu lửa của dân tộc. Hôm nay đây, viết tiếp “khúc hát khải hoàn” đó có những con người đang là nhân chứng sống của lịch sử lại kể tiếp cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm của cha ông ta cho con cháu mình nghe...


    “Nếu trong đêm ấy không thoát khỏi làng này, thì hôm sau, 130 chiếc xe chở xăng dầu ấy sẽ biến thành biển lửa. Mệnh lệnh cấp trên: mở một đường tránh, bắc cầu qua sông Dà cho xe ra chiến trường”, kể về làng chiến đấu K130 (làng Hạ Lôi) đến đây ông chững lại, bao nhiêu ký ức về làng mình ập đến...

    Ông là Trần Đình Cẩm, 75 tuổi. Năm 1968, ông là Chủ tịch xã Tiến Lộc (huyện Can Lộc, Hà Tĩnh) - người trực tiếp chỉ huy chiến dịch làm đường giải thoát 130 chiếc xe.

    Tái hiện lại làng thời chiến

    Tuổi tác, thời gian tưởng như ông không còn nhớ tường tận nữa. Nhưng hễ có đoàn học sinh, sinh viên hay cánh nhà báo muốn tìm hiểu làng thời chiến K130, thì làng thời chiến ấy lại được sống lại qua những thước phim hồi tưởng của ông.

    Năm ông lên làm Chủ tịch xã Tiến Lộc, cũng là năm máy bay Mỹ đánh phá ác liệt Ngã Ba Đồng Lộc. Để lên huyện công tác được, ông phải đi bộ từ bốn giờ sáng, mới tránh được máy bay địch.

    Những tháng mùa thu năm 1968, từ Thạch Hà ra Hồng Lĩnh, máy bay Mỹ đánh phá ác liệt ngày đêm. Quốc lộ 1A bị tắc nghẽn, hệ thống cầu cống bị máy bay địch phá hủy hoàn toàn. 130 chiếc xe chở xăng dầu vào Nam bị tắc lại ở phía Nam huyện Can Lộc, do cầu Dà bị cắt đứt. Đoàn xe phải tấp vào làng Hạ Lôi, xã Tiến Lộc. Trước hoàn cảnh đó, Bộ Chính trị, Bộ Giao thông Vận tải cùng với Ban đường bộ giao thông của tỉnh Hà Tĩnh đưa ra quyết định bất ngờ: Chia làng Hạ Lôi ra làm đôi. “Sáng ngày 13/8/1968, sau khi tiếp thu mệnh lệnh từ cấp trên, tôi cùng với mấy người trong ban lãnh đạo xã tiến hành họp dân, với khẩu hiệu: xe chưa qua là nhà không tiếc. Sau đó các công tác như bố trí người già, trẻ em đến chỗ an toàn, tất cả các lực lượng được tập trung khẩn trương để chuẩn bị phá nhà, mở đường cho cho xe qua”, ông Cẩm nhớ lại.

    Ông Cẩm kể về cuộc họp giữa ủy ban xã Tiến Lộc với người dân làng Hạ Lôi và một số người dân đã hiến nhà cửa, nương vườn cho việc mở đường. Nhưng khi nhắc đến bà Đinh Thị Trí, ông lại rơm rớm nước mắt: “Chồng con mất sớm, sống một mình, trong nhà còn bốn tấm gỗ để đóng quan tài, bà cũng đưa ra hiến tặng. Thấy hoàn cảnh bà như vậy, tôi đã khuyên bà nên để lại lo ma chay sau này. Bà ấy nhất quyết không chịu và nói: giờ chiến tranh đang đòi hỏi, tui có bốn tấm ván gác trên trần, các anh vào khiêng ra làm đường cho xe qua. Nếu các anh không lấy, tui nằm xuống lót đường cho xe chạy”.

    Kể đến đây khuôn mặt ông chợt bừng sáng: “Bà Trí đến cả bốn tấm ván để dành lo hậu sự còn không tiếc nữa. Thôi chúng ta nhanh về nhà. Nói rồi dân làng Hạ Lôi giải tán, bắt tay ngay vào việc. Nhà dỡ đến đâu thì các lực lượng công binh, thanh niên xung phong làm đường đến đó. Chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, 130 ngôi nhà đã được tháo dỡ, đường xe đã mở xong”.

    Ngồi nghe ông kể chuyện, mà như đang xem những thước phim tài liệu: Đến 3 giờ sáng, con đường xuyên qua làng đã hoàn tất. Chiếc xe đầu tiên đã lăn bánh đến phà và qua cầu an toàn. Để bảo vệ bí mật và che mắt địch, bộ phận dân quân và nhân dân Hạ Lôi bắt khum những ngọn tre lại với nhau, làm ngụy trang. Con đường chạy trong làng được giữ bí mật cho đến ngày ngừng bắn.

    “Còn ai thay tui”...

    Buổi sáng gặp nhau, chúng tôi được ông dẫn ra xem dấu tích của con đường huyền thoại. Cây cối, nhà cửa đã mọc lên. Ký ức còn, nhưng dấu tích đã mai một.

    Ông đứng thẫn thờ nhìn một lúc, rồi quay sang nói với chúng tôi: “Trong một đêm, người dân dời, dọn 130 nóc nhà, làm đường cho 130 xe chở hàng ra tiền tuyến, Ban đảm bảo giao thông tỉnh đặt tên làng Hạ Lôi là làng K130. Thế mà, nay tên làng từ thời chiến đang còn, con đường thời chiến lại không”. Hiểu được ý ông, chúng tôi đã cùng ông rẽ cây, lần theo con đường mà ông chỉ. Càng đi sâu, chỉ thấy cây cối, nhà cửa mọc trên con đường, không thấy một dấu tích của con đường để lại. Ông cố tìm từng tấm ván lót đường từ thời chiến để lại, nhưng chỉ thấy cỏ tranh mọc um tùm.

    Thời gian, ý thức con người đã làm mất đi dấu tích con đường. Nhưng ký ức về con đường trong ông không bao giờ phai. Ông nhớ con đường đã đi qua nhà nào đầu tiên. Và hình ảnh về từng đoàn xe lăn bánh trên con đường bí mật mà không bị máy bay địch phát hiện.

    ST

     

     ĐỀ 3: Kkểlaại một trận chiến đấu cá liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh.

    YÊU CẦU:

    - Nội dung: Kể về một trận chiến đấu cá liệt.

    - Tự sự kết hợp với yếu tố miêu tả và nghị luận.

    - Ngôi kể: ngôi thứ ba.

    GỢI Ý:

    -Giới thiệu về trận chiến đấu ác liệt mag mình đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh.

    -Kể lại diễn biến trận chiến đấu ác liệt đó: Nguyên nhân xảy ra trận chiến, ai là người chỉ huy, xảy ra ở đâu?...

    - Kết quả của trận chiến.

    -Cảm nghĩ của bản thân. 

    MỘT SỐ TƯ LIỆU THAM KHẢO:

     

    Tuổi trẻ rực lửa anh hùng

    Trong một trận đánh ác liệt, khẩu đội của Bằng có rất nhiều chiến sỹ hy sinh. Khi trận địa còn khét lẹt mùi thuốc súng, máy bay gầm rú trên đầu, có một người con gái mảnh dẻ lao ra. Rồi nàng gục xuống khi nghe tin người yêu đã hy sinh.

    Người con gái tên Dệt và quả đồi Ân Phú

    Người lính già của trận địa pháo năm xưa, ông Nguyễn Văn Hộ, nguyên là chiến sỹ trong Đại đội 3 kể cho chúng tôi nghe về những trận đánh ác liệt tại Hoàng Mai năm xưa. Rồi giọng ông nghẹn lại mỗi khi nhắc tới tên những đồng đội đã hy sinh. Trong câu chuyện đó, có tên Bằng, có tên Phú, có tên Ân và vô vàn những người đã ngã xuống.

    Cuối năm 1965, đế quốc Mỹ liên tục tăng cường đánh phá miền Bắc, ga Hoàng Mai trở thành túi bom. Tiểu đoàn pháo cao xạ của chúng tôi đã trải qua hàng trăm trận chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ nhà ga, bảo vệ cầu Hoàng Mai và đảm bảo cho mạch máu giao thông Bắc – Nam luôn thông suốt.

    Ông Nguyễn Văn Hộ, nguyên là chiến sỹ pháo cao xạ thuộc Đại đội 3 đang kể về những trận đánh ác liệt tại Hoàng Mai những năm 1965 - 1966. Ảnh: Hoàng Sang.

    Trong một trận chiến đấu ác liệt, khẩu đội 3 đã bị bom đánh trúng. Tôi cũng như Bằng đã từng chứng kiến cái chết anh dũng của những người đồng chí, người bạn chiến đấu.

    Đó là ngày 18/11/1965, trận đánh đầu tiên vừa kết thúc thì bất thình lình, 2 chiếc A4D lại lao vào trận địa. Lần này chúng đánh vào trận địa của đơn vị. Chiếc A4D đầu cắt xuống 1 quả bom nổ cạnh công sự khẩu đội 3 khoảng 10m. Sau tiếng nổ chát chúa, chúng tôi chạy đến thì đã có rất nhiều chiến sỹ bị thương nặng. Các đồng chí y tá, quân khí, trung đội trưởng và các đồng chí chỉ huy thay nhau băng bó vết thương cho các bạn ở khẩu đội 3. Ở trận đó, khẩu đội 3 có 2 chiến sỹ hy sinh” - ông Hộ nhớ lại.

    Trước những mất mát ấy, Bằng nghẹn ngào: “Ngày 18/11/1965, hôm nay thật là một ngày tổn thất lớn đối với đơn vị, ngày mà đơn vị, gia đình quân đội đã mất đi những người đồng chí thân yêu nhất. Gia đình các đồng chí mất đi những giọt máu, những đứa con yêu quí. Các đồng chí Ân, Phú, các đồng chí đã chiến đấu dũng cảm ngoan cường và đã hoàn thành nhiệm vụ một cách vẻ vang. Chúng mình, những người còn lại nguyện bước tiếp quãng đường mà các đồng chí đang bước dở. Chúng mình sẽ chiến đấu và chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để trả thù cho các bạn, các đồng chí. Các đồng chí đã hy sinh anh dũng, các đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ cao cả mà Đảng – Đoàn, nhân dân giao phó. Chúng mình nguyện một lần nữa sẽ noi gương chiến đấu của các đồng chí.

    Vĩnh biệt các đồng chí Ân và Phú 0 giờ 30 phút ngày 19/11/1965. Đơn vị đã đưa những người đồng chí thân yêu của mình về nơi an nghỉ cuối cùng”.

    Đứng trước phần mộ của Ân, Phú và hương hồn các liệt sỹ đã hy sinh, Bằng hứa: “Bọn mình cùng hứa với nhau, nếu ngày mai bọn khát máu còn dẫn xác tới đây, chúng mình quyết tâm bắn cho tan xác để trả thù cho đồng đội, trả thù cho Ân, Phú và những đồng chí đã hy sinh anh dũng, trả thù cho Nhã, Quyết, Thanh Huỳnh - 3 chiến sĩ đã đổ máu ngày hôm qua".

    Từ ngày Ân và Phú hy sinh, ngọn đồi mà 2 anh yên nghỉ được đặt tên là đồi Ân Phú như một sự tri ân. Những đêm hành quân hay chiến đấu, cứ nhìn lên ngọn đồi là cả tiểu đoàn lại hừng hực khí thế chiến đấu. Sau ngày các đồng đội hy sinh, thi thoảng có một người con gái đến gục đầu trước phần mộ của Phú. Cô gái ấy tên là Dệt, người yêu của Phú. Dệt cứ đứng bên nấm mộ của Phú, nước mắt lã chã” – Trung tá Trần Quốc Mỹ hồi tưởng lại.

    Trung tá Trần Quốc Mỹ bồi hồi nhớ lại những giây phút mà đồng đội ông ngã xuống trên chiến trường khốc liệt Hoàng Mai. Ảnh: Đức Huy.

    Chứng kiến cảnh một cô gái xõa tóc, khóc đỏ mắt bên mộ đồng đội đã hy sinh, lòng Bằng quặn đau. Lửa hận thù bốc lên ngùn ngụt, anh hứa, nếu còn sống, sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để trả thù cho họ.

    “28/11/1965

    Ngày thứ tư ở khu vực này không có một tiếng động cơ máy bay nào. Sự yên lặng thật đáng sợ. Sáng nay chúng mình nghỉ không học tập. Cơm sáng xong thì thấy Dệt (người yêu của Phú) vào trận địa. Trông nàng tả tơi, khóc lóc vật vã thảm thiết làm mình cũng không sao cầm lòng nổi. Phú biết không, giờ đây, bên nấm mồ của Phú có người con gái đang đau khổ thương tiếc Phú vô cùng. Nàng đã không quản ngại xa xôi, cố xin ban lãnh đạo cho kỳ được để từ ngoài khoa trường vào đây để vĩnh biệt Phú. Tuy chưa chung chăn gối, mối tình mới chớm nở nhưng Dệt đã coi Phú thực sự như người chồng của mình.

    ...Dệt ra về với nỗi đau đớn tột cùng bởi từ nay nàng vĩnh viễn xa người yêu của mình. Thôi Dệt ạ, hãy cố gắng để vượt qua thử thách đau đớn này nhé. Chúc nàng mạnh khoẻ gặp nhiều may mắn trong tương lai.

    Ân, Phú ơi! Chẳng còn biết làm sao nữa, mình chỉ biết nguyện trước linh hồn 2 bạn là sẽ chiến đấu đến cùng trả thù cho các bạn. Chúng mình sẽ mãi mãi không bao giờ quên được hy sinh của các bạn”.

    Chiến công ngày 3/2

    Lịch sử quân sự Hoàng Mai còn ghi rõ những trận đánh trên mảnh đất kiên cường này trong những năm chiến tranh chống Mỹ. Trong những dòng lịch sử đó, có tên Đỗ Lương Bằng, có cả thế trận chiến tranh nhân dân.

    Trung tá Trần Quốc Mỹ kể lại cho chúng tôi nghe về một trong những trận đánh tại trận địa pháo năm xưa. Giọng ông chậm rãi, đôi mắt rực sáng khi hướng về những chiến công năm ấy.

    …13 giờ 15 phút, ngày 3/2/1966, một tốp máy bay trinh sát A3J và F4H từ phía biển bay vào Khe nước Lạnh trinh sát khu vực Hoàng Mai. 2 đơn vị cao xạ pháo C214, D14, F34, cùng với lực lượng chiến đấu kịp thời nổ súng bắn trúng chiếc máy bay A3J. Trúng đạn, chúng cố nhoài theo hướng Đông Nam để chuồn ra biển. Nhưng đến địa phận xã Quỳnh Liên, chiếc máy bay bốc cháy nghi ngút và rơi làm 3 mảnh.

    Với ông Mỹ, trận đánh kỷ niệm 36 năm ngày thành lập Đảng là một trận đáng ghi nhớ. Ảnh: Hoàng Sang.

    Hai tên phi công nhảy dù xuống cách bờ biển khoảng 2.000m. Đài quan sát ở Hòn Ói lập tức báo tin: máy bay rơi ở toạ độ 200 07’, giặc lái rơi ở toạ độ 210 77’ 2". Cả vùng bãi Ngang không ai bảo ai đều hô to: “Máy bay địch cháy, bắt sống phi công bà con ơi”.

    Các xã Quỳnh Liên, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương… đã phối hợp với lực lượng chủ lực, huy động mọi phương tiện vũ khí ra khơi bắt giặc lái.

    Các chiến sỹ cảm tử trước khi ra đi đã gửi lại gói quần áo cho đồng chí mình và trao đổi nhanh: “Nếu tôi có hy sinh thì đưa lại cho bố, mẹ tôi và nói rằng tôi hy sinh vì đã hoàn thành nhiệm vụ…”, đội hình chiến đấu được triển khai theo hình chữ V, mỗi thuyền cách nhau 100m nhằm thẳng mục tiêu lướt tới. Trên bờ, lực lượng triển khai đội hình sẵn sàng phối hợp chiến đấu. Các thuyền, máng của các xã xung quanh được xuất phát.

    Trong lúc chúng ta đang tiếp cận mục tiêu để bắt gọn 2 tên giặc lái, địch đã tổ chức đội hình ứng cứu, huy động đủ các máy bay chiến đấu: 2 máy bay A6A, 4 máy bay C123, 1 trực thăng và 5 tàu chiến trực cách bờ biển 20km, sẵn sàng ứng cứu, giải thoát cho phi công Mỹ.

    Nhân dân xã Quỳnh Bảng, huyện Quỳnh Lưu và bộ đội vây bắt giặc lái ngày 3/2/1966. Ảnh tư liệu.

    Trong lúc thuyền áp sát mục tiêu, chúng cho bọn AD6 ồ ạt bao vây các thuyền. Các chiến sỹ cảm tử vẫn không hề nao núng, vẫn bám sát mục tiêu bao vây, khép chặt giặc lái. Hai thuyền chủ lực vượt trước, quay trở lại tạo thành thế gọng kìm, thuyền thứ 3 lao tới áp đảo nổ súng.

    17 giờ 17 phút, ngày 3/2/1966, 2 tên giặc lái Mỹ: Hen Béc Rô Mác Rôn, Đại uý và Rôbét Hanson Trung uý bị bắt

    Một tên giặc lái bị nhân dân Quỳnh Lưu bắt sống ngàt 3/2/1966. Ảnh tư liệu.

    Ghi lại chiến công của những người lính cao xạ và toàn thể quân dân đóng quân trên địa bàn Quỳnh Lưu ngày 3/2/1966, Đỗ Lương Bằng đã viết vào nhật kí:

    Ngày kỷ niệm thành lập Đảng tròn 36 tuổi, tối qua đơn vị phát động thi đua lập thành tích chào mừng ngày kỷ niệm thành lập Đảng, nhất là trong chiến đấu. Không khí thi đua sôi nổi hào hứng trong toàn đơn vị. Vừa hết giờ nghỉ trưa. Tiếng động cơ xuất hiện hướng 14. Lúc này là 13 giờ 5 phút, một máy bay phản lực A3J bay vào bắt mục tiêu ở cự ly 5000m và 4000m, đơn vị nổ súng. Đầu máy bay Mỹ bị bốc cháy vỡ thành 3 mảnh, cháy đỏ cả góc trời, rơi tại đất liền giữa tiếng hò reo ầm ĩ của nhân dân địa phương… bọn mình thật phấn khởi quá. Hò reo ầm ĩ cả trận địa. Chả là vì sau hơn 2 tháng, hôm nay mới nổ súng, lại bắn cháy ngay từ điểm xạ đầu”.ST

     

    Ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông

    --------------------------------------------------------------------------------

    Trong thế kỷ XIII, dân tộc Việt Nam đã lập nên những chiến công vĩ đại: ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông xâm lược.
    Lần thứ nhất xảy ra vào tháng Giêng năm 1258. Bấy giờ, vua chúa Mông Cổ đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm Trung Quốc. Bên cạnh những đạo quân ồ ạt đánh vào đất Tống, một đạo quân khoảng bốn vạn người, gồm kỵ binh Mông Cổ và binh lính người Thoán Vân Nam, do tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uryangquadai) chỉ huy, từ Vân Nam đánh xuống Đại Việt. Vua Trần là Thái Tông đã đem quân lên chặn giặc ở Bình Lệ Nguyên, bên sông Cà Lồ. Nhưng sau đó, quân ta rút lui để bảo toàn lực lượng trước thế mạnh ban đầu của giặc.
    Quân ta rút lui, bỏ Thăng Long lại phía sau, nhưng Triều đình nhà Trần và quân dân vẫn không nao núng. Vua tôi nhà Trần đã bàn phương lược đánh giặc trên những con thuyền xuôi sông Hồng. Khi được Thái Tông hỏi ý kiến, Thái sư Trần Thủ Độ đã trả lời: ''Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo".
    Giặc đóng ở Thăng Long, trong một toà thành trống, đã khốn đốn vì thiếu lương thực. Chúng cố đánh ra xung quanh để cướp lương thực, nhưng ở đâu cũng gặp sức chống trả mãnh liệt của nhân dân. Vì vậy mà chỉ sau 9 ngày, chúng đã vô cùng hốt hoảng. Đó chính là thời cơ để quân ta phản công. Ngày 29-l-1258, Vua Trần Thái Tông đã đem binh thuyền ngược sông Hồng tiến về Thăng Long. Quân địch bị đánh bật khỏi Kinh thành, theo đường cũ, chạy về Vân Nam. Trên đường tháo chạy, chúng còn bị quân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi tập kích, đánh cho tan tác.
    Sau lần thất bại đó, bọn vua chúa Mông Cổ vướng vào cuộc nội chiến (1259 -1264) và cuộc chiến tranh với Tống (1267-1279) nên chưa thể tiếp tục ngay cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mãi đến năm 1279, nhà Tống mất, toàn bộ đất Trung Quốc đă nằm dưới ách thống trị của nhà Nguyên, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt (Quibilai) mới chuẩn bị xâm lược nước ta bằng quân sự. Sau khi không thể khuất phục được Đại Việt bằng những sứ bộ ngoại giao, cuối năm 1284, đạo quân Nguyên Mông do Thoát Hoan (Toan), con trai Hốt Tất Liệt, và A Lý Hải Nha (Ariquaya) chỉ huy, đã lên đường, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ hai.
    Lần này, ngoài cánh quân lớn của Thoát Hoan đánh vào mặt Lạng Sơn, Vua Nguyên còn sai Nạp Tốc Lạt Đinh (Nasirud Din) đem một cánh quân từ Vân Nam đánh vào mặt Tuyên Quang, và ra lệnh cho Toa Đô (Sogatu) đem đạo quân còn đóng ở Bắc Chămpa, đánh vào mặt Nam của Đại Việt.
    Sau một vài trận đánh chặn giặc ở mặt Lạng Sơn và Tuyên Quang, trong tháng 2/1285, quân ta lại rút lui và lần nữa bỏ trống Thăng Long, kéo về mạn Thiên Trường và Trường Yên (Ninh Bình). Và để tránh cái thế bị kẹp vào giữa các gọng kìm của giặc, đại quân và Triều đình chờ cho cánh quân của ba Đô tiến đến Trường Yên (Ninh Bình) thì rút vào Thanh Hoá. Trong khi một bộ phận lớn quân chủ lực rút, thì khắp nơi, quân địa phương và dân binh các lộ, phối hợp với các cánh quân nhỏ của Triều đình để lại đã không ngừng tập kích, tấn công vào quân địch ở vùng bị chiếm đóng. Kế hoạch ''vườn không nhà trống" được toàn dân thực hiện. Giặc đóng quân phân tán, thiếu lương thực, có nguy cơ bị tiêu diệt. Mùa hè đến, lại giáng lên đầu chúng những tai hoạ mới. Sử Nguyên chép: "Bệnh dịch hoành hành... Nước lụt dâng to, ngập ướt doanh trại... ". Thời cơ phản công của quân ta đã tới. Tháng 5/1285, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dẫn đại quân tiến ra Bắc. Kế hoạch diệt địch như sau: Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải và một số tướng lĩnh được giao nhiệm vụ diệt địch trên phòng tuyến sông Hồng, còn Hưng Đạo Vương, đem quân vòng qua vùng Hải Đông, tiến lên Vạn Kiếp, chặn đường tháo chạy của địch. Cục diện chiến tranh xảy ra đúng như dự liệu: cuối tháng 5-1285, Trần Quang Khải cùng với Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản đã đánh tan giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, rồi tiến lên giải phóng Thăng Long. Thoát Hoan hoảng hốt, rút khỏi Thǎng Long, chạy về phía Vạn Kiếp. Đến đây, bọn giặc lọt vào trận địa mai phục của Trần Hưng Đạo, chúng bị thương vong rất nhiều. Đám tàn quân hoảng loạn cố mở đường máu tháo chạy. Nhưng đến biên giới Lạng Sơn, chúng lại bị quân ta chặn đánh. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng rồi bắt quân lính khiêng chạy về nước. Viên đại tướng Lý Hằng đi đoạn hậu, bị tên độc trúng đầu gối, về đến Tư Minh thì chết.
    Trong khi cánh quân Thoát Hoan chạy về phía Lạng Sơn thì cánh quân Nạp Tốc Lạt Đinh tìm đường tẩu thoát về Vân Nam, cũng bị quân dân ta tập kích, đánh cho tơi bời. Không biết Thoát Hoan đã bỏ chạy, Toa Đô kéo ra Bắc, theo sông Hồng định về Thǎng Long, nhưng đến Tây Kết thì bị quân ta chặn đánh. Toa Đô bị chém. Thế là cuộc chiến tranh xâm lược của Nguyên Mông lần thứ hai hoàn toàn thất bại.
    Ngay sau thất bại năm 1258, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược mới. Nhưng phải đến cuối năm 1287, các đạo quân viễn chinh mới có thể lên đường. Một đạo do Thoát Hoan và áo Lỗ Xích (Agurucxi) chỉ huy tiến vào Lạng Sơn. Một đạo khác, do ái Lỗ (Airuq) cầm đầu, từ Vân Nam đánh vào Tuyên Quang. Lần này, không còn cánh quân phía Nam, nhưng Vua Nguyên lại phái thêm một cánh thuỷ quân, sai ô Mã Nhi (Omar) chỉ huy, hộ tống đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ vào Đại Việt theo đường biển.
    Tháng 12/1287, khi đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào vùng biển An Bang (Quảng Ninh), Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đem thuỷ quân chặn đánh, nhưng không cản được giặc. ô Mã Nhi cho binh thuyền tiến thẳng vào cửa sông Bạch Đằng, không chú ý đến đoàn thuyền lương nặng nề chậm chạp ở sau. Mãi đến tháng 1/1288, đoàn thuyền lương của giặc mới tiến đến vùng đảo Vân Đồn. Trần Khánh Dư lại đem quân tập kích. Trương Văn Hổ chống đỡ không nổi, đổ cả lương thực xuống biển, trèo lên một chiếc thuyền nhỏ, trốn về Quỳnh Châu (Hải Nam). Bấy giờ, Thoát Hoan cũng đã tiến vào Lạng Sơn, hội quân với cánh quân thủy của ô Mã Nhi ở Vạn Kiếp. Thoát Hoan dừng lại ở đây gần một tháng, xây dựng Vạn Kiếp thành một cǎn cứ vững chắc, mãi đến cuối tháng 1/1288 mới chia quân tiến về Thăng Long.
    Lần thứ ba, quân dân nhà Trần lại bỏ ngỏ Thăng Long. Quân Nguyên vào Thăng Long ngày 2/2/1288. Ngay sau đó, Thoát Hoan vội sai ô Mã Nhi đem chiến thuyền ra biển đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Nhưng thuyền còn đâu nữa. Không có lương thực, đạo quân Thoát Hoan đóng ở Thăng Long lâm vào tình thế khốn quẫn.Thoát Hoan phải ra lệnh rút quân về Vạn Kiếp. Trên đường rút về Vạn Kiếp, giặc bị quân ta chặn đánh ở cửa Ba Sông, vùng Phả Lại. Kéo về đóng ở Vạn Kiếp, đạo quân xâm lược vẫn bị quân ta tập kích ngày đêm. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, bọn tướng Nguyên đã nói với Thoát Hoan: ''ở Giao Chỉ, không có thành trì để giữ, không có lương thực đủ ăn, mà thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ lại không đến. Vả lại khí trời đã nóng nực, lương hết, quân mệt, không lấy gì để chống đỡ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên bảo toàn quân mà về thì hơn" Trước tình hình đó, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước theo hai đường: cánh quân bộ rút qua vùng Lạng Sơn, còn cánh quân thuỷ sẽ rút ra biển theo sông Bạch Đằng.
    Kế hoạch rút lui của giặc không nằm ngoài dự liệu của Trần Hưng Đạo. ông đã bố trí chặn giặc ở vùng biên giới và chuẩn bị cho một trận quyết chiến lớn trên sông Bạch Đằng. Từ tháng 3, quân sĩ và nhân dân đã đẵn gỗ lim, gỗ táu ở rừng về đẽo nhọn, đóng xuống lòng sông, làm thành những bãi cọc lớn. Thuỷ quân và bộ binh ta đã phục sẵn trong các nhánh sông và các khu rừng rậm ven sông Bạch Đằng, chờ ngày tiêu diệt địch.
    Sáng ngày 9/4/1288, đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào sông Bạch Đằng. Khi đoàn thuyền giặc lọt vào trận địa mai phục của ta thì từ các nhánh sông, các thuyền nhẹ của ta lao ra, đánh tạt vào sườn giặc, dồn chúng vào các bãi cọc. Giặc định áp thuyền sát bờ, đổ quân chiếm lấy núi cao để yểm hộ cho đoàn thuyền rút, nhưng bị bộ binh ta đánh hắt xuống. Một trận kịch chiến ác liệt đã xảy ra. Nước triều xuống gấp, thuyền giặc to nặng, lao nhanh theo dòng nước, vướng cọc, tan vỡ rất nhiều. Cho đến giờ dậu (5-7 giờ tối), toàn bộ đạo quân thuỷ của giặc bị tiêu diệt. ô Mã Nhi bị bắt sống. Lần thứ ba trong lịch sử giữ nước của dân tộc, dòng Bạch Đằng lại ghi thêm một chiến công oanh liệt. Trong khi đó, đạo quân của Thoát Hoan cũng khốn đốn rút chạy ra biên giới. Sau khi bị phục kích ở cửa ải Nội Bàng, chúng bỏ con đường ra ải Khâu Cấp, vòng theo đường Đan Ba (Đình Lập), chạy tạt ra biên giới. Nhưng ở đây, chúng cũng bị quân ta chặn đánh, tướng giặc là A Bát Xích (Abaci) bị trúng tên. Mãi đến ngày 19/4/1288, đám tàn quân của Thoát Hoan mới về đến Tư Minh.
    Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt đã chôn vùi vĩnh viễn mộng xâm lược của Hốt Tất Liệt.

     

    Đại thắng Thăng Long trong mùa xuân Kỷ Dậu (1789)

    --------------------------------------------------------------------------------

    Cuối năm Mậu Thân (1788), nhân dân Thăng Long và Bắc Hà phải chịu đựng những ngày tháng đau thương, tủi nhục vì nạn ngoại xâm. Lợi dụng sự cầu cứu của Lê Chiêu Thống, 290 nghìn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị thống lãnh, đã tràn vào chiếm đóng kinh thành và kiểm soát phần lớn đất Bắc Hà. Quân đồn trú Tây Sơn do tướng Ngô Văn Sở chỉ huy, đã theo kế sách mưu trí của tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, lui về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn.
    Giành được thắng lợi tương đối dễ dàng, Tôn Sĩ Nghị tỏ ra rất chủ quan. Hắn ra lệnh cho quân sĩ tạm đóng quân ở Thăng Long để nghỉ ngơi ăn tết và chuẩn bị mọi mặt thật chu đáo rồi sau tết sẽ "tiến vào tận sào huyệt của giặc, bắt sống Nguyễn Huệ" (Hoàng Lê nhất thống chí), Hắn đóng đại bản doanh ở cung Tây Long bên bờ sông Nhị và bố trí lực lượng phòng thủ quanh Thăng Long, nhất là hướng đường thiên lý và đường thượng đạo mà quân Tây Sơn có thể bất ngờ tiến công. Trên hai hướng phòng ngự này, đồn Ngọc Hồi và đồn Đống Đa giữ vị trí then chốt.
    Những ngày giáp tết năm đó, nhân dân kinh thành đã chứng kiến biết bao tội ác của quân giặc: ''kiếm mọi cách vu hãm những người lương thiện, áp bức, cướp bóc những nhà giàu có, thậm chí giữa chợ, giữa đường cũng cướp giật của cải, hãm hiếp đàn bà, không còn kiêng sợ gì cả"; và sự phản bội hèn mạt của bọn bán nước: ''nước Nam ta từ khi có đế, có vương đến nay, chưa bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế" (Hoàng Lê nhất thống chí).
    Nhưng cũng trong thời gian đó, tại Phú Xuân, ngày 24 tháng 11 Mậu Thân (21/12/1788) Quang Trung nhận được tin cấp báo và ngay hôm sau làm lễ xuất quân. Với những phán đoán tình hình và công việc chuẩn bị được trù liệu trước, chỉ trong vòng 35 ngày từ 25/11 đến 30/12 Mậu Thân (22/12/1788 - 25/1/1789), trên đường hành quân và tập kết đại quân ở Tam Điệp, Quang Trung đă hoàn tất mọi việc chuẩn bị cho chiến dịch đại phá quân Thanh. Đúng đêm giao thừa Tết Kỷ Dậu, quân Tây Sơn bất ngờ tiến công tiêu diệt đồn tiền tiêu của giặc ở Gián Khẩu, cách Thăng Long gần 90 km, mở đầu cuộc đại phá quân Thanh. Sau 5 ngày đêm tiến quân thần tốc, đạo quân chủ lực của Quang Trung đã phá tan hệ thống phòng ngự của địch trên hướng đường thiên lý tiến về Thăng Long.
    Mờ sáng mùng 5 tết (30/1/1789), đạo quân chủ lực của Quang Trung phối hợp với đạo quân đô đốc Bảo công phá và tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Ngọc Hồi - Đầm Mực.
    Cùng lúc đó, đạo quân do đô đốc Long chỉ huy, bất ngờ diệt đồn Đống Đa rồi đánh thọc sâu vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long.
    Sự phối hợp hai trận đánh Ngọc Hồi, Đống Đa làm cho Tôn Sĩ Nghị hết sức bất ngờ, choáng váng và lâm vào thế hoàn toàn bất lực, sụp đổ. Với cả một lực lượng dự bị khá lớn ở tổng hành dinh, nhưng viên chủ soái quân Thanh đành phải tháo chạy trong cảnh hoảng loạn và tan rã. Trên đường tháo chạy, chúng lại bị một cánh quân Tây Sơn khác chặn đánh ở vùng Yên Thế, Phượng Nhãn, Lạng Giang và bị bồi thêm những đòn tổn thất nặng nề.
    35 ngày chuẩn bị trên đường hành quân dài khoảng hơn 500 km từ Phú Xuân đến Tam Điệp và 5 ngày đêm tiến công tiêu diệt trên một tuyến phòng ngự dài khoảng 90 km từ Gián Khẩu đến Thăng Long, quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Quang Trung đã đạt mức kỷ lục về tính thần tốc trong hành quân chuẩn bị và tiến công tiêu diệt địch.
    Đại thắng Thăng Long xuân Kỷ Dậu 1789 là một trong những vũ công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.
    Đó là chiến thắng tiêu biểu cho đỉnh cao của sự phát triển và thắng lợi của phong trào Tây Sơn, được tạo nên bằng sức mạnh quật khởi của nông dân kết hợp với sức mạnh yêu nước và đoàn kết của cả dân tộc. Trong hàng ngũ quân đội Tây Sơn lập nên vũ công mùa xuân đó có những người đã tham gia dấy nghĩa từ đất Tây Sơn, có những con các em dân tộc Tây Nguyên chuộng tự do phóng khoáng, có những người dân khắp mọi miền của đất nước đã tự nguyện đứng dưới lá cờ nghĩa Tây Sơn, có những trí thức yêu nước như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp... những võ quan cũ của chính quyền Lê - Trịnh như Đặng Tiến Đông..., những tướng soái Tây Sơn đă đày dạn chiến trận như Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết... .
    Đó là chiến thắng của quân đội Tây Sơn với quyết tâm và ý chí đánh cho nó ''chích luân bất phản", đánh cho nó ''phiến giáp bất hoàn", đánh cho ''sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. ý chí đó lại được nhân dân hết lòng giúp đỡ. Và như chúng ta đã biết, trên đường hành quân chiến đấu của quân Tây Sơn, nhân dân đã cho con em mình gia nhập nghĩa quân, đã tiếp tế lương thực, giúp các phương tiện vượt sông...
    Nhân dân các làng xã quanh Thăng Long đã giúp quân Tây Sơn bí mật giấu quân ém sát đồn giặc, góp ván gỗ làm mộc công phá đền Ngọc Hồi, đă phối hợp làm trận rồng lửa trong trận diệt đồn Đống Đa...
    Bằng lối đánh thần tốc và một thế trận lợi hại kết hợp tiến công chính diện mãnh liệt với những mũi thọc sâu bất ngờ và những mũi vu hồi sau lưng, Quang Trung với số quân chỉ hơn 10 vạn, nhưng đã đặt Tôn Sĩ Nghị và 29 vạn quân Thanh vào thế hoàn toàn bị động, bất ngờ đi từ thất bại này đến thất bại khác và cuối cùng phải chấp nhận sự thảm hại, tháo chạy trong hoảng loạn. Đại thắng Xuân Kỷ Dậu (1789) biểu thị tập trung thiên tài quân sự của Quang Trung Nguyễn Huệ.
    Cũng ngay sau khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích dùng mọi biện pháp ngoại giao mềm mỏng và tích cực để nhanh chóng lập lại quan hệ hoà hiếu với nhà Thanh. Chỉ trong vòng nửa năm, hai bên đã thông sứ bộ và sau đó, quan hệ bang giao và buôn bán giữa hai nước đã được khôi phục.

     

     CHÚC CÁC EM LÀM BÀI TỐT!


    Đào Thị Nhung @ 14:50 15/10/2009
    Số lượt xem: 17498
    Số lượt thích: 0 người
    19037
    Trong một trận đánh ác liệt, khẩu đội của Bằng có rất nhiều chiến sỹ hy sinh. Khi trận địa còn khét lẹt mùi thuốc súng, máy bay gầm rú trên đầu, có một người con gái mảnh dẻ lao ra. Rồi nàng gục xuống khi nghe tin người yêu đã hy sinh.
     
    Gửi ý kiến
    print

    CLICK VỀ ĐẦU TRANG