Danh ngôn về cuộc sống

THÔNG TIN GIÁO DỤC 24/24

Hổ trợ trực tuyến

  • (Vô Thường)
  • (ntn_dau)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Ảnh ngẫu nhiên

300pxDen_Mac_Dinh_Chi.jpg 270.jpg DAO_NHUNG.jpg 1.gif Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv 008_Dao_Nhung.jpg N.jpg Songcoichvibietvothuong.jpg Danhngoncuocsong220.jpg NOI_AY_CON_TIM_ME.swf FunPhotoBox1152701303cwzzgf.gif IMG_38591.jpg 1166.jpg WP_20150919_23_00_39_Pro.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    16 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    BÀ HUYỆN THANH QUAN

    BA_HUYEN_THANH_QUAN.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Web Vô Thường st>
    Người gửi: Đào Thị Nhung (trang riêng)
    Ngày gửi: 09h:50' 24-09-2011
    Dung lượng: 90.8 KB
    Số lượt tải: 3
    Mô tả:

     

     

     

     

     

    Bà Huyện Thanh Quan (1805 - 1848)


    Bà Huyện Thanh Quan (sinh 1805(Ất Mùi) - mất 1848 (Mậu Thân)) tên thật là Nguyễn Thị Hinh bà là người giỏi về thơ văn thời Minh Mệnh và Tự Đức. thân sinh Bà Huyện Thanh Quan là danh nho Nguyễn Lý (1755-1837) vốn là một cựu thần nhà Lê, là học trò của danh sỹ Phạm Quý Thích một tiến sĩ đời nhà Lê và là bạn thân của thi hào Nguyễn Du.

    Tiểu sử:

    Bà người làng Nghi Tàm, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).

    Bà là vợ ông Lưu Nghi (1804 -1847), tự là Lưu Nguyên Uẩn, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Lưu Nghi đỗ cử nhân năm 1821 (đời Minh Mạng thứ 2), làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Ninh, tỉnh Thái Bình), vì vậy người ta thường gọi bà là "Bà huyện Thanh Quan".

     

    Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc có nhắc tới chồng bà trong Nam thi hợp tuyển như sau: "Chồng bà là ông Lưu Nguyên Uẩn, sinh năm 1804, đậu tú tài năm 1825, cử nhân năm 1828 và được bổ nhiệm làm tri huyện Thanh Quan. Ông huyện Thanh Quan vì can án phải cách, bổ làm Bát phẩm thơ lại Bộ hình. Sau lại thăng lên chức Viên ngoại lang".

    Năm 1839, bà vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và hậu phi. Ở Huế, bà giao thiệp và để lại ấn tượng sâu sắc với nhiều kẻ sĩ. Năm 1847, sau khi chồng mất, bà xin phép về quê nghỉ hưu và đưa bốn con nhỏ từ Huế về sống tại quê nội ở làng Nghi Tàm. Công chúa Mai Am đã tặng bà bài thơ "Tống Ái Lan Thất Nguyễn Thị Lưu Hà Nội"

    Bà đã để lại 6 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật, miêu tả phong cảnh đất nước như đèo Ngang (bài Qua đèo Ngang), thành Thăng Long (bài Thăng Long hoài cổ), chùa Trấn Bắc (bài Chùa Trấn Bắc),... biểu thị lòng yêu mến phong cảnh thiên nhiên và tâm trạng ai hoài trước sự đổi thay của thế sự. Ngoài ra còn một bài thơ Cảnh thu hiện vẫn chưa rõ là của bà hay của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

    Hai câu thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan nằm trong bài Qua đèo Ngang:

    Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

    Image

    Phụ Nữ Việt Nam


    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    BÀ HUYỆN THANH QUAN

    No_avatarf

    tam thoiiiiiiiiiiiiiiiiiiiLè lưỡi

     
    Gửi ý kiến

    CLICK VỀ ĐẦU TRANG