Danh ngôn về cuộc sống

THÔNG TIN GIÁO DỤC 24/24

Hổ trợ trực tuyến

  • (Vô Thường)
  • (ntn_dau)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Ảnh ngẫu nhiên

300pxDen_Mac_Dinh_Chi.jpg 270.jpg DAO_NHUNG.jpg 1.gif Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv 008_Dao_Nhung.jpg N.jpg Songcoichvibietvothuong.jpg Danhngoncuocsong220.jpg NOI_AY_CON_TIM_ME.swf FunPhotoBox1152701303cwzzgf.gif IMG_38591.jpg 1166.jpg WP_20150919_23_00_39_Pro.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    4 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Nhà thơ Huy Cận và bài thơ "Các vị La Hán chùa Tây Phương"

    Ap_20100226111938906.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đồng Xuân Sơn (trang riêng)
    Ngày gửi: 23h:40' 03-09-2010
    Dung lượng: 98.5 KB
    Số lượt tải: 1
    Mô tả:

     

     

    Nhà thơ Huy Cận và bài thơ
    "Các vị La Hán chùa Tây Phương"

    Bài thơ này cả ý tưởng lẫn đề tài không hề ngẫu hứng như những bài thơ khác. Tôi đã "nặng lòng" với bài thơ này 20 năm. Từ năm 1940 khi ý tưởng về nó bắt đầu manh nha cho đến khi được viết ra năm 1960. Suốt 20 năm tôi trằn trọc và nung nấu nó. Năm 1940, tập Lửa thiêng xuất bản được ít lâu, một nhóm bạn rủ tôi đi thăm chùa Tây Phương, nhóm gồm có: Khải Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, Nguyễn Đỗ Cung. Khi đó tôi là một thanh niên nhưng lại rất thích đi thăm chùa chiền, nhà thờ... Dường như bấy giờ tôi ý thức được rằng đó là những nét văn hóa lớn của dân tộc mà không kẻ giặc nào có thể cướp đi. Việc đi thăm chùa chiền có ý nghĩa như cuộc hành hương về cội nguồn. Trước khi đến chùa Tây Phương tôi đã đi thăm một số chùa khác, nhưng khi đến đây tôi cảm động bởi kiến trúc độc đáo của chùa và đặc biệt là 18 pho tượng La Hán bằng gỗ. Mỗi pho tượng là một phong cách điêu khắc lạ lùng và khi nhóm lại với nhau tạo ra một khung cảnh thật ấn tượng.

    Đi thăm chùa về tôi lập tức ghi ý tưởng vào sổ tay: "Các vị La Hán chùa Tây Phương - nỗi đau khổ của cha ông". Nhưng nếu chỉ dừng lại ở ý tưởng đó thôi thì tôi thấy không ổn lắm và bài thơ không thành là vì thế. Nỗi đau khổ ấy sẽ tìm thấy lối thoát ở đâu? Đấy là câu hỏi của tôi trong suốt 20 năm sau đó. Cuối năm 1960 có một số bạn bè Trung Quốc sang thăm. Tôi và một số người khác mời họ đi thăm chùa Tây Phương. Đấy là lần thứ hai tôi đến chùa. ấn tượng vẫn còn mới nguyên như 20 năm trước. Tôi viết một mạch bài thơ trong đêm 27-12-1960. Nếu chỉ viết về nỗi đau đời, quằn quại của cha ông thì không đủ. Bởi lẽ cái đau ấy là cái đau tuyệt vọng không lối thoát, dù có đau đớn bao nhiêu cuộc sống vẫn không thể tươi sáng lên được. Nếu bài thơ dừng ở đấy thì thơ cũng sẽ thành tối tăm, tuyệt vọng. Nhiệm vụ của bài thơ là chỉ ra được cái nỗi đau khổ tuyệt vọng ấy, đồng thời phải tìm ra được lối đi, phương pháp giải quyết cho nó. Cho nên khi tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng cuộc đời mới ở miền bắc tôi mới làm nốt được phần sau bài thơ. Xã hội bấy giờ đã giúp tôi, chỉ rõ cho tôi rằng chỉ có cách mạng giải phóng dân tộc mới là lối thoát cho những đau khổ của cha ông và của chính tôi nữa. Tôi nhập vào tâm sự của cha ông và tìm thấy ánh sáng cuối đường hầm đau khổ. Cách mạng đến không chỉ giải thoát cho tôi, cho những người đang sống mà còn giải thoát cho các giá trị tinh thần của cha ông đang bị giày xéo.

    Vì viết về chùa chiền, là nơi linh thiêng, mờ ảo, nên tôi chọn cách vào đề thật giản dị: "Các vị La Hán chùa Tây Phương, tôi đến thăm về lòng vấn vương", để cho bớt cái vẻ huyền ảo đi. Nhưng những câu thơ này tả thực tâm trạng của tôi mà không cần sự trợ giúp của các thủ thuật khác. Xứ Phật, nơi trong ý nghĩa của kinh sách, cũng như trong tín ngưỡng của người dân chúng ta là nơi yên bình, hạnh phúc vĩnh viễn, không có đau khổ, không có chết chóc, tất cả sống trong cực lạc. Nhưng khi nhìn những mặt tượng đau đớn khổ sở đó rõ ràng bất kỳ người nào cũng phải thốt lên:

    Há chẳng phải đây là xứ Phật

    Mà sao ai nấy mặt đau thương

    Xứ Phật xa vời, mơ hồ nào đó không ai biết nhưng đau khổ thì được thể hiện rõ ràng, minh bạch bằng đường nét, hình khối hẳn hoi. Phải chăng có điều gì ẩn giấu dưới tất cả các vẻ mặt ấy? Cái gì khiến cho các vị được hưởng phúc lạc lại phải mở ra tất cả những đau đớn tinh thần thế này? La Hán không giống như Bồ Tát cứu nhân độ thế, La Hán chỉ tự cứu lấy mình mà dường như vẫn không tự cứu được. Vì đâu có tất cả những nỗi đau khổ triền miên đó? Câu chuyện của cuộc sống, nỗi đau khổ của cuộc sống bắt nguồn từ đây.

    Đạo Phật quan niệm, ngay khi sự sống bắt đầu trong tiếng khóc chào đời, con người đã biết hết mọi nỗi đau thương của kiếp sống. ở đây trong ba khổ thơ tả thực những pho tượng La Hán cũng hàm ý tả thực lại các nỗi đau khổ của con người và cũng là nỗi đau khổ chung của xã hội bấy giờ. Với từng cá nhân con người, đau thương "thiêu đốt tấm thân gầy", họ luôn mang theo "tâm hồn héo", phải sống trong cuộc sống "nghe đủ chuyện buồn". Hai khổ trên miêu tả nỗi đau riêng của từng con người cá nhân, nhưng chỉ cần một câu "cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn" ta lập tức hiểu ra đau thương đã trùm lên toàn bộ xã hội. 

    Nếu mỗi pho tượng là một vẻ mặt con người với bao đớn đau của phận người thì cuộc họp mặt của các La Hán chính là cuộc họp "trong vật vã" của muôn số phận, muôn thương đau. Mới hay đau thương đã thành bản chất, đã chìm ngập cả xã hội. Điều đó thật khủng khiếp. Bởi vậy nhu cầu giải phóng xã hội là một nhu cầu lớn lao và đã chất chứa từ nhiều thế hệ trước. Và cuộc cách mạng của chúng ta đã thực sự có ý nghĩa nhân văn khi giải phóng được gánh nặng tinh thần của con người.

    Câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời là câu hỏi lớn mà chưa từng có ai trả lời rõ ràng được. "Một câu hỏi lớn không lời đáp". Quả con người đang bị một thúc bách ghê gớm. Nhưng câu hỏi đó, cái ý nghĩa mà con người trăn trở từ ngàn đời thật là một điều khó khăn mà dường như phải mất rất nhiều thời gian người ta cũng chỉ hiểu lờ mờ chút ít. "Một câu hỏi lớn. Không lời đáp". Xin chú ý đến hình thức câu thơ này. Dấu chấm câu đặt ở giữa dòng thơ là một điều đặc biệt. "Một câu hỏi lớn"... dấu chấm dừng câu ở đây tạo cho người đọc cảm giác có đoạn dừng suy ngẫm để nhận ra ngay câu trả lời cho nó là "không lời đáp". Tuy nhiên sự không bình thường ở dòng thơ này phải tương ứng với dòng trên. ở dòng thơ trên, tôi dùng ba thanh trắc liên tiếp ở giữa câu: "quay theo tám hướng hỏi trời sâu", nếu không nhằm mục đích nào đó thì việc dùng ba âm trắc này rất có vẻ "nghịch tai". Nó nhằm nêu bật được nỗi băn khoăn khắc khoải, sự cố gắng đến tuyệt vọng của con người trong khát vọng đi tìm ý nghĩa của cuộc đời.

    Để hiểu tâm sự của chính tác giả, bạn đọc cần nhận thấy một sự dứt khoát trong ý tưởng. Người nghệ sĩ khi tạc những "hình khổ hạnh" ấy, hẳn phải thấu hiểu cái đau chung của mọi người. Bởi nếu chỉ biết đau nỗi đau riêng mình thì không thể tạo được nhiều trạng thái đau khổ như thế. Nghệ thuật có khả năng khơi gợi cảm thông, làm cho người ta thấu hiểu nhau là vì thế.

    Như vậy, người "thợ cả" xưa đã cảm nhận được nỗi đau khổ của cộng đồng, đã chia sẻ được nỗi đắng cay của người khác. Đó chính là điều mà tôi dằn vặt suốt 20 năm trời, thời gian ấp ủ bài thơ này. Để chỉ ra ý nghĩa cuộc sống hiện tại cũng cần phải có nỗi đau nhân thế. Nhung chỉ chỉ ra thôi thì chưa đủ, mà còn phải tìm được lối đi cho những nỗi đau khổ ấy. Hàng thế kỷ, con người bị những gánh nặng tinh thần và cuộc sống là sự "dậm chân một chỗ". Không một chút hạnh phúc nào soi dọi tới. Bao nhiêu kiếp sống lầm than "sờ soạng", "tìm lối ra" mà vẫn bị chìm đắm, vây bủa trong mầu đen của cuộc đời.

    Có phải thế mà trên tượng Phật

    Nửa như ám khói, nửa sương tà

    Không nên hiểu rằng ở đây sương khói phủ mờ tượng Phật mà chính là phủ mờ tâm hồn nghệ sĩ - người tạc tượng. Không thể có cách nào để giải thoát nỗi buồn, nghệ sĩ đành gửi gắm nó trên những đường nét chạm khắc. Như vậy cả nghệ thuật cũng cần phải được giải phóng mới có thể vươn tới những giá trị mới mẻ, mới thực sự có ích cho cuộc đời.

    Sau 20 năm tôi trở lại thì "Hôm nay xã hội đã lên đường", một cuộc sống tươi trẻ đã bắt đầu, tương lai được rộng mở, câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời được giải đáp và tôi có cảm giác như "mặt tượng dường tươi lại". Tâm sự của nhà thơ lúc ấy "đồng thanh tương ứng" - với nhịp sống hân hoan của cuộc đời. Những bước đi vấp ngã, những bi kịch, bế tắc trên con đường đi tìm sự giải phóng và nỗi đau đời của cha ông trong quá khứ được đền đáp.

    Nguyễn Quyến 

    (Báo Văn nghệ trẻ) 

     Các vị La Hán chùa Tây Phương

    Tác giả :  Huy Cận 

    Các vị La Hán chùa Tây Phương
    Tôi đến thăm về lòng vấn vương.
    Há chẳng phải đây là xứ Phật,
    Mà sao ai nấy mặt đau thương?

    Đây vị xương trần chân với tay
    Có chi thiêu đốt tấm thân gầy
    Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
    Tự bấy ngồi y cho đến nay.

    Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
    Trán như nổi sóng biển luân hồi
    Môi cong chua chát, tâm hồn héo
    Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.

    Có vị chân tay co xếp lại
    Tròn xoe từa thể chiếc thai non
    Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
    Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn….

    Các vị ngồi đây trong lặng yên
    Mà nghe giông bão nổ trăm miền
    Như từ vực thẳm đời nhân loại
    Bóng tối đùn ra trận gió đen.

    Mỗi người một vẻ, mặt con người
    Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời
    Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
    Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.

    Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau
    Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
    Một câu hỏi lớn. Không lời đáp
    Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

    Có thực trên đường tu đến Phật
    Trần gian tìm cởi áo trầm luân
    Bấy nhiêu quằn quại run lần chót
    Các vị đau theo lòng chúng nhân?

    Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?
    Sống lại cho tôi hỏi một câu:
    Bác tạc bấy nhiêu hình khổ hạnh
    Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?

    Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão
    Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời
    Là cha ông đó bằng xương máu
    Đã khổ, không yên cả đứng ngồi.

    Cha ông năm tháng đè lưng nặng
    Những bạn đương thời của Nguyễn Du
    Nung nấu tâm can vò võ trán
    Đau đời có cứu được đời đâu.

    Đứt ruột cha ông trong cái thuở
    Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ
    Bao nhiêu hi vọng thúc bên sườn
    Héo tựa mầm non thiếu ánh dương.

    Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la
    Sờ soạng, cha ông tìm lối ra
    Có phải thế mà trên mặt tượng
    Nửa như khói ám, nửa sương tà.

    Các vị La Hán chùa Tây Phương!
    Hôm nay xã hội đã lên đường
    Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
    Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.

    Cha ông yêu mến thời xưa cũ
    Trần trụi đau thương bỗng hoá gần!
    Những bước mất đi trong thớ gỗ
    Về đây, tươi vạn dặm đường xuân.

    27-12-1960

     

     

     

     

     

     


    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Nhà thơ Huy Cận và bài thơ "Các vị La Hán chùa Tây Phương"

     

    Avatar

    Ghé thăm cô Đào Nhung ! Cảm ơn cô đã ghé thăm và tặng quà !!!

     

     
    Gửi ý kiến

    CLICK VỀ ĐẦU TRANG