SKKN
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN PHÚ TÂN
TRƯỜNG THCS VIỆT THẮNG
ĐỀ TÀI:
CẢI TIẾN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM KHI DẠY CÁC NỘI DUNG
THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM SINH HỌC 9
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
1/ Yếu tố chủ quan:
- Là một giáo viên trực tiếp được phân công giảng dạy môn Sinh học trong nhiều năm, tôi nhận thấy việc vận dụng lí thuyết học tập của học sinh vào các bài thực hành và thực tiễn cuộc sống còn gặp rất nhiều khó khăn.
- Sinh học nói chung và Sinh học 9 nói riêng, là môn khoa học thực nghiệm, các kiến thức Sinh học chủ yếu được hình thành bằng phương pháp quan sát,mô tả, tìm tòi thực nghiệm. Vậy mà học sinh lại gặp khó khăn trong vấn đề này thì quả là một điều rất đáng quan tâm. Chính điều đó đã thôi thúc tôi quan tâm và mạnh dạn nêu ra một số kinh nghiệm của mình trong việc giảng dạy các nội dung thực hành - thí nghiệm Sinh học 9.
2/ Yếu tố khách quan:
- Trong thực tế dạy học Sinh học nói chung và dạy học các bài thực hành Sinh học 9 nói riêng. Đối với các trường cơ sở ở vùng sâu, vùng xa còn gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp vì:
+ Đa số các trường chưa có phòng học bộ môn nên việc tiến hành các thí nghiệm, thực hành gặp rất nhiều khó khăn.
+ Các thiết bị dạy học còn thiếu nhiều, chất lượng của các thiết bị hiện có cũng chưa cao, thậm chí là chưa đạt yêu cầu…, cũng ảnh hưởng đến việc tổ chức một tiết thực hành thí nghiệm.
+ Mỗi giáo viên phải dạy nhiều giờ, nhiều khối lớp, thậm chí là phải dạy nhiều môn, hơn nữa trong dạy học môn Sinh học hiện nay còn phải lồng ghép nhiều nội dung như: “Lồng ghép bảo vệ môi trường vào dạy học môn Sinh học”, “Giáo dục kĩ năng sống trong môn Sinh học”…, nên giáo viên phải dành rất nhiều thời gian cho việc soạn giáo án. Vì vậy, việc chuẩn bị cho các tiết thực hành thí nghiệm càng gặp nhiều khó khăn hơn.
- Để thực hiện quy chế thiết bị giáo dục, ban hành theo quyết định số 41/2000/QĐ/BGD&ĐT ngày 24 tháng 03 năm 2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì giáo viên cần:
+ Thực hiện đầy đủ các bài thực hành thí nghiệm trong chương trình và SGK.
+ Làm thử thuần thục các thí nghiệm, thực hành trước giờ lên lớp.
+ Đáp ứng yêu cầu đổi mới về nội dung SGK và phương pháp dạy học mới, giúp học sinh tiếp thu kiến thức sâu sắc và chính xác. Kích thích sự hứng thú học tập, lòng say mê nghiên cứu và tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh.
Mỗi người giáo viên cần phải có lòng đam mê, yêu nghề và phải có kĩ năng sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học cũng như những kĩ năng thực hành thí nghiệm nhất định. Đồng thời cũng cần có những sáng tạo trong việc tự làm đồ dùng dạy học và thực hành thí nghiệm.
II/ NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1/ Cơ sở lí luận:
a/ Vai trò của thực hành thí nghiệm trong dạy học Sinh học:
- Biểu diễn thí nghiệm là phương pháp quan trọng nhất để tổ chức cho học sinh nghiên cứu, giải thích các hiện tượng sinh học.
- Thực hành thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở xuất phát cho quá trình nhận thức của học sinh.
- Thực hành thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực hành để đi đến thực tiễn.
- Thực hành thí nghiệm giúp học sinh đi sâu tìm hiểu bản chất của hiện tượng, quá trình Sinh học.
- Thí nghiệm do giáo viên biểu diễn là mẫu mực về thao tác, là cơ sở chuẩn kiến thức để học sinh quan sát, nhận xét và bắt chước. Dần dần, khi học sinh biết cách và tự tiến hành được thí nghiệm, đó là cơ sở đối chứng giúp học sinh hình thành kĩ năng, kĩ xảo khi thực hành thí nghiệm, phát hiện kiến thức.
- Thí nghiệm có thể được sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh với các mức độ khác nhau: Thông báo, tái hiện (bắt chước) tìm tòi bộ phận, giải thích, chứng minh, nghiên cứu tìm kiến thức mới…
* Tóm lại: Thực hành thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu bài mới, củng cố, hoàn thiện kiến thức, kiểm tra đánh giá kiến thức. Đặc biệt thí nghiệm có vai trò rất quan trọng đối với việc dạy học một bài thực hành. Thí nghiệm có thể do giáo viên biểu diễn hoặc do học sinh tiến hành. Thí nghiệm có thể tiến hành trên lớp, trong phòng thí nghiệm, ngoài vườn, ngoài đồng ruộng hoặc trong nhà…
b/ Bản chất của phương pháp thực hành thí nghiệm:
- Thực hành thí nghiệm là nguồn tri thức mới cho học sinh, nó là điểm xuất phát cho quá trình tìm tòi của học sinh để đi đến việc hình thành kiến thức mới.
- Trong bài thực hành thì thí nghiệm lại là nguồn kiến thức vừa có vai trò xây dựng cái mới, vừa có vai trò củng cố, hoàn thiện và kiểm chứng, chứng minh một vấn đề đã được nhắc tới.
- Bằng hệ thống câu hỏi có tính chất định hướng, giáo viên đã kích thích sự hứng thú học tập, sự tìm tòi độc lập, sáng tạo của học sinh.
- Bằng tài liệu quan sát được từ thí nghiệm do giáo viên biểu diễn hoặc bản thân học sinh tự tiến hành, giúp học sinh có thể phân tích, so sánh, thiết lập mối quan hệ nhân quả, trả lời các câu hỏi để đi tới các kết luận khái quát, phản ánh bản chất của vấn đề hay hiện tượng sinh học.
- Như vậy, trong phương pháp thực hành thí nghiệm, học sinh ở vị trí của người nghiên cứu, chủ động giành tri thức nên sự lĩnh hội tri thức được sâu sắc hơn, đầy đủ hơn.
* Thực hành thí nghiệm nghiên cứu gồm các bước sau:
+ Giới thiệu mục đích, yêu cầu thực hành thí nghiệm
+ Tổ chức phân tích các điều kiện thí nghiệm.
+ Giới thiệu các bước, các thao tác tiến hành thí nghiệm.
+ Giới thiệu các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong quá trình thí nghiệm.
+ Thiết lập các mối quan hệ nhân quả từ kết quả thí nghiệm.
- Để học sinh nắm được mục đích, điều kiện thực hành thí nghiệm, giáo viên nên giới thiệu trước cho học sinh, giúp học sinh thuận lợi hơn trong việc xác định mục tiêu của tiết thực hành. Trong tiết thực hành, quan sát thí nghiệm là hoạt động nhận thức tự lực của học sinh. Ở đây, thầy chỉ có vai trò là người cố vấn, theo dõi, giám sát và là trọng tài ghi nhận những thành tích phát hiện tri thức của học sinh .
- Việc rút ra kết luận, báo cáo thu hoạch là giai đoạn cuối cùng, quan trọng nhất trong quá trình thực hành thí nghiệm, tức là sau khi học sinh thực hành thí nghiệm giải thích các hiện tượng, quá trình Sinh học xảy ra một cách phù hợp, lôgíc, đáp ứng mục đích, yêu cầu đề ra ban đầu thì vấn đề đã được giải quyết.
2/ Nội dung cụ thể:
a/ Những yêu cầu sư phạm của thực hành thí nghiệm:
- Như đã đề cập ở trên, thực hành thí nghiệm là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức và tìm tòi của học sinh để đi đến việc hình thành kiến thức mới. Như vậy, khi tiến hành thực hành thí nghiệm, giáo viên cần:
+ Đặt vấn đề rõ ràng, giải thích cụ thể mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của thực hành thí nghiệm.
+ Hướng dẫn học sinh ghi chép các hiện tượng xảy ra trong quá trình thí nghiệm, làm cơ sở để giải thích, khái quát và rút ra kết luận.
+ Yêu cầu của thí nghiệm phải đơn giản, phù hợp với học sinh, tránh những thí nghiệm quá phức tạp, những yêu cầu quá trừu tượng.
+ Bố trí thời gian cho thí nghiệm phải hợp lí, đảm bảo thu được kết quả xác thực giữa lí thuyết, thực tế và thí nghiệm.
+ Sau khi thực hành thí nghiệm, cần tổ chức cho học sinh thảo luận theo hệ thống câu hỏi và kết quả thu được.
+ Cuối cùng, giáo viên cần phải nhận xét, đánh giá và kết luận kiến thức chuẩn để học sinh điều chỉnh nhận thức nếu cần.
b/ Các bước lôgíc khi thực hànhthí nghiệm:
- Bước 1: Đặt vấn đề: Thông báo đề tài nghiên cứu, nêu mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu để kích thích sự tự giác và hứng thú ban đầu của người học.
- Bước 2: Phát hiện vấn đề: Nêu mục đích cụ thể hơn, vạch rõ những thành phần cấu thành chủ đề nghiên cứu để có sự định hướng cụ thể.
- Bước 3: Đề xuất giả thiết của đề tài, dự đoán các phương án giải quyết, vạch ra kế hoạch giải quyết.
- Bước 4: Thực hiện kế hoạch giải quyết.
- Bước 5: Đánh giá việc thực hiện kế hoạch: Nếu kết quả thực hiện kế hoạch không phù hợp với giả thiết khoa học đã nêu ra thì quay lại bước 3, đề xuất giả thiết khác. Nếu việc thực hiện kế hoạch đưa đến kết quả chính xác, xác nhận giả thiết đúng thì chuyển sang bước 6.
- Bước 6: Phát biểu kết luận.
c/ Những điều cần lưu ý khi thực hành thí nghiệm:
- Thí nghiệm nghiên cứu nhất thiết phải có phần đối chứng để kiểm tra kết quả thí nghiệm, giúp học sinh tìm được mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm.Việc xác định yếu tố thí nghiệm và đối chứng được thực hiện ở bước 4 & 5 với các thí nghiệm minh hoạ thì đơn giản hơn không nhất thiết phải có đối chứng.
- Phải đảm bảo tính sư phạm, tính khoa học của việc biểu diễn thí nghiệm như: Nơi bối trí thí nghiệm phải đủ ánh sáng, cả lớp phải quan sát rõ được, các thao tác thí nghiệm phải thành thạo, bảo đảm thí nghiệm thành công, dự đoán trước những thắc mắc của học sinh có thể đưa ra khi quan sát thí nghiệm, lường trước những thất bại có thể xảy ra để giải thích cho học sinh rõ nguyên nhân, tránh làm mất lòng tin đối với học sinh .
- Trong dạy học Sinh học, có thể có những thí nghiệm dài ngày nên có thể bố trí ở vườn trường, góc sinh giới, trong chuồng trại, ruộng thí nghiệm (loại thí nghiệm trong bài thực hành “Tập dượt thao tác giao phấn” :Tiết 41 đầu học kỳ II). Có loại thí nghiệm chỉ đòi hỏi thời gian ngắn ( thí nghiệm về sinh lý – sinh hoá ) có thể thực hiện ngay tại lớp.
- Đối với thí nghiệm diễn tả cùng một bản chất hay cùng một quy luật trong những điều kiện khác nhau, giáo viên nên biểu diễn song song để cho hiệu quả cao hơn hình thức biểu diễn lần lượt từng thí nghiệm.
* Ví dụ: Trong tiết 14 theo PPCT môn Sinh học 9. Khi dạy bài thực hành: “Quan sát hình thái NST”.
+ Giáo viên nêu vấn đề: Khi tìm hiểu và nghiên cứu về hình thái NST, ta không thể quan sát trực tiếp được hình thái của NST bằng mắt thường, vì NST có kích thước rất nhỏ. Vậy để quan sát được hình thái của nó ta cần quan sát dưới kính hiển vi quang học. Từ đó, giáo viên nêu mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của tiết thực hành.
+ Trước khi học sinh tiến hành thí nghiệm, giáo viên cần hướng dẫn kỹ năng sử dụng, điều chỉnh kính để có thể quan sát được hình ảnh rõ nhất về hình thái NST, đồng thời hướng dẫn học sinh ghi chép thông tin để đối chứng và làm cơ sở để giải thích, khái quát và rút ra kết luận.
* GV lưu ý:
Trong tiêu bản có các tế bào đang ở các kì khác nhau: Ở kì trung gian ( có nhân hình tròn, không thấy rõ NST ). Các tế bào đang phân chia ở các kì khác nhau được nhận biết thông qua việc xác định vị trí của NST trong tế bào.
Khi thực hành, lúc đầu phải dùng vật kính có bội giác nhỏ để lựa chọn điểm quan sát được. Sau đó, chuyển sang vật kính có bội giác lớn và điều chỉnh để quan sát được tiêu bản một cách tốt nhất.
Ở các nhóm, khi nhận dạng được hình thái rõ nhất của NST, thì cần lần lượt thay nhau quan sát và vẽ vào vở hình vừa quan sát được.
+ Khi học sinh quan sát, giáo viên có thể treo tranh phóng to hình thái NST cho học sinh quan sát để so sánh với tiêu bản, đồng thời giáo viên có thể gợi ý thêm để các em dễ nhận dạng NST qua các kì. Ví dụ, các NST tập trung thành hàng, ở giữa tế bào thì tế bào đang ở kì nào, nếu NST phân thành hai nhóm về hai hướng cực của tế bào thì tế bào đang ở kì nào,…
+ Sau khi học sinh thực hành, giáo viên cho học sinh thảo luận và báo cáo kết quả thu được.
+ Khi học sinh đã báo cáo, nhận xét kết quả của các nhóm bạn. Giáo viên cần nhận xét, đánh giá và kết luận kiến thức chuẩn, làm cơ sở cho học sinh làm báo cáo thu hoạch.
- Trong trường hợp nội dung bài có các thí nghiệm đơn giản, giáo viên có thể giới thiệu, sau đó biểu diễn thí nghiệm minh họa hoặc cho học sinh tự làm thí nghiệm, từ đó ghi nhận kết quả và liên hệ kiến thức, lí thuyết để giải thích các hiện tượng, các khái niệm hoặc qui luật, đáp ứng yêu cầu của bài học.
* Ví dụ: Trong tiết 6 theo PPCT môn Sinh học 9. Khi dạy bài thực hành:
“ Tính xác suất xuất hiện các mặt của đồng kim loại ( đồng xu )”.
+ Giáo viên nêu mục đích, yêu cầu của bài học.
+ Hướng dẫn học sinh làm theo nhóm ( trực tiếp làm thí nghiệm).
Gieo một đồng kim loại.
Gieo hai đồng kim loại.
+ Thống kê kết quả vào bảng mẫu.
+ Từ kết quả thu được trên bảng số liệu, giáo viên cho học sinh liên hệ:
Kết quả khi gieo một đồng kim loại ( Bảng 6.1 ) gợi cho ta liên hệ tới điều gì về tỷ lệ các loại giao tử sinh ra từ con lai F1 ( Aa ).
Kết quả khi gieo hai đồng kim loại ( Bảng 6.2 ) gợi cho ta liên hệ tới điều gì về tỷ lệ các kiểu gen ở F2 trong phép lai một cặp tính trạng của Men Đen ?
+ Qua đó học sinh vận dụng tư duy, liên hệ để giải thích vấn đề của bài học.
- Trong trường hợp nội dung bài thực hành có các yêu cầu phức tạp, không phù hợp với thực tế ở địa phương. Giáo viên nên tổ chức cho học sinh quan sát thí nghiệm hoặc hướng dẫn học sinh tìm hiểu theo lôgíc nghiên cứu, nhằm rèn luyện tư duy sáng tạo của học sinh, đồng thời giáo viên cũng lên có những sáng tạo trong việc tìm kiếm các thí nghiệm có nội dung phù hợp để thay thế, giúp học sinh nắm được các kỹ năng cơ bản trong thực hành thí nghiệm và có cơ sở để giải thích các kết quả thí nghiệm.
* Ví dụ: Ở tiết 41 theo PPCT môn Sinh học 9; bài 38. Thực hành: “Tập dượt thao tác giao phấn”. Đây là loại thí nghiệm dài ngày, hơn nữa đối với thực tế ở địa phương cũng như trong khu vực Cà Mau, nơi mà đã nhiều năm được chuyển đổi qui hoạch sang nuôi thủy sản và không còn sự phát triển của cây lương thực như “ Lúa ”, thì quả thực yêu cầu của bài này lại trở nên phức tạp và khó tiến hành. Vì vậy khi tiến hành bài học, giáo viên chỉ nên giới thiệu cho học sinh các thao tác giao phấn ở cây lúa. Sau đó cho học sinh liên hệ để tìm hiểu các thao tác giao phấn ở các cây tự thụ phấn và giao phấn, đồng thời giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh thực hành trên cây lương thực khác như ngô (bắp)…
III/ KẾT QUẢ VÀ VIỆC PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG VÀ THỰC TIỄN:
1/ Đảm bảo tính khoa học:
Trong dạy học Sinh học, thực hành thí nghiệm đóng vai trò rất quan trọng, nó cho phép đi sâu nghiên cứu các hiện tượng, quá trình Sinh học. Đồng thời kích thích được sự hứng thú học tập của học sinh và khai thác được khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh. Như vậy, phương pháp thực hành thí nghiệm vừa đảm bảo tính khoa học, vừa gây hứng thú cho học sinh, đáp ứng được nhu cầu đổi mới của phương pháp dạy học hiện nay.
2/ Phạm vi ứng dụng:
Những kỹ năng trong thực hành thí nghiệm là những kinh nghiệm được sử dụng rộng rãi, không chỉ trong dạy học những bài thực hành Sinh học nói riêng, mà nó còn được ứng dụng trong hầu hết các nội dung, kiểu bài trong chương trình Sinh học bậc THCS.
3/ Kết quả cụ thể:
- Khi chưa áp dụng: Đa số học sinh nắm bắt kiến thức một cách hời hợt, thụ động, chủ yếu các em chờ đợi vào một số ít bạn khá - giỏi làm để chép cho có đủ bài, không hiểu bản chất vấn đề, không giải thích được hiện tượng xảy ra, không tự làm được thực hành thí nghiệm, cũng như không tự viết được báo cáo thu hoạch.
- Khi áp dụng: Hầu hết các em có hứng thú học tập, chủ động tham gia thực hành thí nghiệm và tham gia thảo luận, giải thích kết quả. Số học sinh có khả năng tự làm thực hành thí nghiệm và tự viết được báo cáo thu hoạch cũng dần dần tăng lên theo các năm học. Trong đó đa số các em giải thích được tương đối sâu sắc các vấn đề xảy ra. Đồng thời, các em rất hồ hởi khi có giờ thực hành vì các em được làm chủ, được độc lập nghiên cứu, tranh luận và bảo vệ vấn đề mình tranh luận. Từ đó chất lượng giáo dục của môn học cũng được nâng cao dần, cụ thể là:
+ Năm học 2007-2008 chỉ tiêu bộ môn đạt:
|
Giỏi |
Khá |
Trung bình |
Yếu |
Kém |
|
2,6 % |
14,5 % |
68,9 % |
14 % |
0 % |
+ Năm học 2008-2009 chỉ tiêu bộ môn đạt:
|
Giỏi |
Khá |
Trung bình |
Yếu |
Kém |
|
5,4 % |
19,6 % |
66,3 % |
8,7 % |
0 % |
+ Năm học 2009-2010 chỉ tiêu bộ môn đạt:
|
Giỏi |
Khá |
Trung bình |
Yếu |
Kém |
|
13,1 % |
25,4 % |
56,6 % |
4,9 % |
0 % |
- Như vậy, trong mục tiêu và phương pháp đặc thù của dạy học Sinh học thì phương pháp thực hành thí nghiệm là phương pháp dạy học tích cực và đem lại rất nhiều hiệu quả, nó vừa kích thích được lòng say mê nghiên cứu, tìm tòi kiến thức của học sinh, nó vừa có vai trò củng cố, hoàn hiện và kiểm chứng những hiện tượng, quá trình Sinh học được nhắc đến. Vì vậy, trên đây tôi mạnh dạn nêu ra một số kinh nghiệm nhỏ của mình. Rất mong được sự đóng góp, xây dựng của bạn bè, đồng nghiệp để có một phương pháp dạy học tốt nhất, đặc biệt là đối với môn Sinh học và các bài thực hành trong chương trình Sinh học.
- Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi, nó đã gắn liền với thực tiễn trong công tác giảng dạy của tôi ở trường THCS Việt Thắng và nó góp phần khắc phục những khó khăn, yếu kém của học sinh trong các tiết thực hành Sinh học 9 nói riêng và trong chương trình Sinh học nói chung.
Việt Thắng ngày 20 tháng 10 năm 2010
Người viết
Nguyễn Mạnh Hùng
THẨM ĐỊNH CỦA HĐKH GD-ĐT
Nguyễn Mạnh Hùng @ 20:04 02/04/2012
Số lượt xem: 863
- Bác Hồ học ngoại ngữ như thế nào? (27/03/12)
- Văn hóa ứng xử - Đôi điều suy nghĩ (21/03/12)
- MỘT SỐ MẪU CỔNG TRẠI (06/03/12)
- Thi tốt nghiệp THPT 2012: Phương pháp ôn thi tốt môn Văn (28/02/12)
- 4 NHÓM KĨ NĂNG TỰ HỌC CẦN THIẾT (26/02/12)

VT cám ơn Thầy Hùng. Chúc vui !