BÀI CA NGẤT NGƯỠNG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Web Vô Thường St& Gt
Người gửi: Đào Thị Nhung (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:38' 01-10-2011
Dung lượng: 24.5 KB
Số lượt tải: 84
Nguồn: Web Vô Thường St& Gt
Người gửi: Đào Thị Nhung (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:38' 01-10-2011
Dung lượng: 24.5 KB
Số lượt tải: 84
Số lượt thích:
0 người
BÀI CA NGẤT NGƯỞNG
Nguyễn Công Trứ
I. Kiến thức cơ bản.
1. Tác giả.
Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) Hiêu là Hi Văn quê ở Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Học giỏi, giàu chí khí, tài hoa, đỗ thủ khoa. văn võ toàn tài, nhiều thăng trầm trên đường công danh, hoan lộ. Giàu lòng yêu nước thương dân. Lấn biển, khai hoang, di dân lập ra 2 huyện Tiền Hải, và Kin Sơn. Năm 80 tuổi vẫn xin vua cầm quân ra trận đánh Pháp (1858).
Thơ văn để lại: Trên 50 bài thơ, trên 60 bài hát nói và một bài phú nôm nổi tiếng "Hàn nho phong vị phú", một số câu đối rất thâm thuý. Đi thi tự vinh, Nợ tang bồng, Nợ công danh, Chí nam nhi, Trên vì nước, dưới vì nhà, bài ca nhất ngưởng… là những bài thơ rất nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ.
2. Xuất xứ, chủ đề
a. Xuất xứ
"Bài ca ngất ngưởng" viết sai năm 1848 - là năm Nguyễn Công Trứ về trí sĩ ở Hà Tĩnh quê nhà.
b. Chủ đề
Như một lời tự thuật cuộc đời, qua đó Nguyễn Công Trứ tự hào về tài và công danh bày tỏ một quan niệm sống tài tử, phóng khoáng… ngoài vòng kiềm toả.
3. Bố cục bài hát nói
- Khổ đầu (4 câu): Có tài nên ngất ngưởng.
- Khổ giữa (4 câu): Có danh vọng về trí sĩ càng ngất ngưởng.
- Hai khổ dôi (8 câu tiếp): Một cuộc sống tài tử, phóng túng ngất ngưởng.
- Khổ xếp: (3 câu cuối): Một danh thân nên ngất ngưởng
- Chú ý: Trong bài thơ hát nói, câu cuối chỉ có 6 từ (theo đúng luật thơ). Một văn bản khác đã ghi: "Đời ai ngất ngưởng như ông" (Tuyển tập thơ ca trù - NXB văn học 1987)
4. Phân tích
* Ngất ngưởng: Không vững ở chỗ cheo leo dễ đổ, dễ rơi (từ điển tiếng Việt). Ở bài thơ này, nên hiểu là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người.
1. Khổ đầu, câu 1, 2 đối lập giữa phận sự mang tầm vóc vũ trụ lớn lao với cảnh ngỗ đã vào lồng rất chật hẹp tù túng. Thế mà ông Hi Văn đây - tự xưng rất đỗi kiêu hãnh tự hào - vẫn thi thố được tài năng, học giỏi, thi hương đỗ giải nguyên (thủ khoa) làm quan võ là tham tán, làm quan văn là Tổng đốc Đông. Là một con người có tài thao lược nên ta (ông Hi Văn) đã nên tay ngất ngưởng, một con người khác đời, khác thiên hạ, và bất chấp mọi người. Câu 3, 4 với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2) đã tạo nên một giọng điêu hào hứng:
"Khi thủ khoa/khi tham tán/khi Tổng đốc Đông/Gồm thao lược/đã nên tay/ngất ngưởng".
2. Khổ giữa: Tác giả khẳng định mình là một con người có tài hình bang tế thế, lúc loạn thì giúp nước "bình tây cờ đại tướng", lúc bình thì giúp vua làm "phủ doãn Thừa Thiên". Đó là việc đã qua, còn nay ta đã về trí sĩ, nên ta sống ngất ngưởng bất chấp mọi người:
"Đô môn giải tố niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng".
Nay đã trả áo mũ cho triều đình, ta về quê không cưỡi ngựa mà là cưỡi bò vàng; con bò vàng của ta cũng đeo đạc ngựa, đó là một sự ngất ngưởng, rất khác người!
3. Khổ dôi (hai khổ 3, 4) nói lên một cách sống ngất ngưởng. Xưa là một danh tướng (tay kiếm cung) thế mà nay rất từ bi hiền lành, bình dị. Đi vãn cảnh chùa chiền, đi thăm cảnh đẹp (Rú Nài): "Kìa núi nọ phau phau mây trắng", ông đã mang theo "một đôi dì" (một hai nàng hầu). Và do đó "Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng". Bụt cười hay thiên hạ cười, hay ông Hi Văn tự cười mình? Chuyện "được, mất" là lẽ đời như tích "thất mã tái ông" mà thôi, chẳng bận tâm làm gì! Chuyện "khen, chê" của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai như ngọn gió đông (xuân) thổi phơi phới qua. (câu thơ này: "khen chê phơi phới ngọn đông phong" - Chúng tôi hiểu khác người biên soạn sách văn 11).
Không quan tâm đến chuyện được mất, bỏ ngoài tai mọi lời khen, chê thị phi, ông đã sống những tháng ngày thảnh thơi, vui thú. tuy ngất ngưởng mà vẫn trong sạch, thanh cao. Cách ngắt nhịp 2,
Nguyễn Công Trứ
I. Kiến thức cơ bản.
1. Tác giả.
Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) Hiêu là Hi Văn quê ở Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Học giỏi, giàu chí khí, tài hoa, đỗ thủ khoa. văn võ toàn tài, nhiều thăng trầm trên đường công danh, hoan lộ. Giàu lòng yêu nước thương dân. Lấn biển, khai hoang, di dân lập ra 2 huyện Tiền Hải, và Kin Sơn. Năm 80 tuổi vẫn xin vua cầm quân ra trận đánh Pháp (1858).
Thơ văn để lại: Trên 50 bài thơ, trên 60 bài hát nói và một bài phú nôm nổi tiếng "Hàn nho phong vị phú", một số câu đối rất thâm thuý. Đi thi tự vinh, Nợ tang bồng, Nợ công danh, Chí nam nhi, Trên vì nước, dưới vì nhà, bài ca nhất ngưởng… là những bài thơ rất nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ.
2. Xuất xứ, chủ đề
a. Xuất xứ
"Bài ca ngất ngưởng" viết sai năm 1848 - là năm Nguyễn Công Trứ về trí sĩ ở Hà Tĩnh quê nhà.
b. Chủ đề
Như một lời tự thuật cuộc đời, qua đó Nguyễn Công Trứ tự hào về tài và công danh bày tỏ một quan niệm sống tài tử, phóng khoáng… ngoài vòng kiềm toả.
3. Bố cục bài hát nói
- Khổ đầu (4 câu): Có tài nên ngất ngưởng.
- Khổ giữa (4 câu): Có danh vọng về trí sĩ càng ngất ngưởng.
- Hai khổ dôi (8 câu tiếp): Một cuộc sống tài tử, phóng túng ngất ngưởng.
- Khổ xếp: (3 câu cuối): Một danh thân nên ngất ngưởng
- Chú ý: Trong bài thơ hát nói, câu cuối chỉ có 6 từ (theo đúng luật thơ). Một văn bản khác đã ghi: "Đời ai ngất ngưởng như ông" (Tuyển tập thơ ca trù - NXB văn học 1987)
4. Phân tích
* Ngất ngưởng: Không vững ở chỗ cheo leo dễ đổ, dễ rơi (từ điển tiếng Việt). Ở bài thơ này, nên hiểu là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người.
1. Khổ đầu, câu 1, 2 đối lập giữa phận sự mang tầm vóc vũ trụ lớn lao với cảnh ngỗ đã vào lồng rất chật hẹp tù túng. Thế mà ông Hi Văn đây - tự xưng rất đỗi kiêu hãnh tự hào - vẫn thi thố được tài năng, học giỏi, thi hương đỗ giải nguyên (thủ khoa) làm quan võ là tham tán, làm quan văn là Tổng đốc Đông. Là một con người có tài thao lược nên ta (ông Hi Văn) đã nên tay ngất ngưởng, một con người khác đời, khác thiên hạ, và bất chấp mọi người. Câu 3, 4 với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2) đã tạo nên một giọng điêu hào hứng:
"Khi thủ khoa/khi tham tán/khi Tổng đốc Đông/Gồm thao lược/đã nên tay/ngất ngưởng".
2. Khổ giữa: Tác giả khẳng định mình là một con người có tài hình bang tế thế, lúc loạn thì giúp nước "bình tây cờ đại tướng", lúc bình thì giúp vua làm "phủ doãn Thừa Thiên". Đó là việc đã qua, còn nay ta đã về trí sĩ, nên ta sống ngất ngưởng bất chấp mọi người:
"Đô môn giải tố niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng".
Nay đã trả áo mũ cho triều đình, ta về quê không cưỡi ngựa mà là cưỡi bò vàng; con bò vàng của ta cũng đeo đạc ngựa, đó là một sự ngất ngưởng, rất khác người!
3. Khổ dôi (hai khổ 3, 4) nói lên một cách sống ngất ngưởng. Xưa là một danh tướng (tay kiếm cung) thế mà nay rất từ bi hiền lành, bình dị. Đi vãn cảnh chùa chiền, đi thăm cảnh đẹp (Rú Nài): "Kìa núi nọ phau phau mây trắng", ông đã mang theo "một đôi dì" (một hai nàng hầu). Và do đó "Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng". Bụt cười hay thiên hạ cười, hay ông Hi Văn tự cười mình? Chuyện "được, mất" là lẽ đời như tích "thất mã tái ông" mà thôi, chẳng bận tâm làm gì! Chuyện "khen, chê" của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai như ngọn gió đông (xuân) thổi phơi phới qua. (câu thơ này: "khen chê phơi phới ngọn đông phong" - Chúng tôi hiểu khác người biên soạn sách văn 11).
Không quan tâm đến chuyện được mất, bỏ ngoài tai mọi lời khen, chê thị phi, ông đã sống những tháng ngày thảnh thơi, vui thú. tuy ngất ngưởng mà vẫn trong sạch, thanh cao. Cách ngắt nhịp 2,
BÀI CA NGẤT NGƯỠNG
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Các ý kiến mới nhất