Danh ngôn về cuộc sống

THÔNG TIN GIÁO DỤC 24/24

Hổ trợ trực tuyến

  • (Vô Thường)
  • (ntn_dau)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Ảnh ngẫu nhiên

300pxDen_Mac_Dinh_Chi.jpg 270.jpg DAO_NHUNG.jpg 1.gif Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv 008_Dao_Nhung.jpg N.jpg Songcoichvibietvothuong.jpg Danhngoncuocsong220.jpg NOI_AY_CON_TIM_ME.swf FunPhotoBox1152701303cwzzgf.gif IMG_38591.jpg 1166.jpg WP_20150919_23_00_39_Pro.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    10 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    CHIẾU CẦU HIỀN - NGÔ THÌ NHẬM

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Web Vô Thường - St>hiệu
    Người gửi: Đào Thị Nhung (trang riêng)
    Ngày gửi: 06h:27' 27-05-2011
    Dung lượng: 11.7 KB
    Số lượt tải: 12
    Số lượt thích: 0 người
    Chiếu cầu hiền - Ngô Thì Nhậm
    CHIẾU CẦU HIỀN
    Ngô Thì Nhậm
    I. Kiến thức cơ bản.
    1. Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ là ba anh em ruột, những lãnh tụ kiệt xuất của cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn vào nửa sau thế kỉ XVIII.
    Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự đã đạp đổ ngai vàng của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đánh tan 29 vạn quân Thanh năm 1789, xây lên chiến công Đống Đa bất tử.
    Trước khi tiến quân ra Bắc đánh Tôn Sĩ Nghị, Nguyễn Huệ lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Quang Trung. Vua Quang Trung băng hà năm 1792.
    2. Ngô Thì Nhậm (1746-1803) thuộc danh gia vọng tộc "Ngô Thì" ở Tả Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội). Đỗ Tiến sĩ từng làm quan to triều Lê Cảnh Hưng. Là một trong số cách danh sĩ Bắc Hà ra cộng tác với nhà Tây Sơn và được Nguyễn Huệ trọng dụng.
    Sau khi quét sạch được giặc Thanh ra khỏi bờ cõi, vua Quang Trung uỷ thác Ngô Thì Nhậm viết "Chiếu cầu hiền".
    3. "Chiếu cầu hiền" viết bằng chữ Hán thể hiện tấm lòng trọng dụng hiền tài, nhân tài, quyết tâm xây dựng đất nước cường thịnh, một tầm nhìn chiến lược sâu xa của bậc minh quân.
    4. Nội dung "Chiếu cầu hiền"
    Chiếu cũng như biểu, hịch, cáo, phú, văn tế,... đều thuộc văn xuôi cổ; mỗi loại có quy cách riêng, bố cục riêng. Không có bố cục 3 phần như ta thường học, thường thấy. Do đó, bài dàn ý này được chia làm 5 phần.
    1. Việc xử thế của người hiền như sao sáng trên trời:
    - Sao trên trời phải chầu về Bắc thần, người hiền phải để cho Thiên tử sử dụng.
    - Người hiền nếu giấu mình ẩn tiếng... thì không đúng với ý trời sinh ra người hiền.
    2. Khí tiết của người hiền lúc mạt thời (cuối thời Lê - Trịnh):
    - Ở tại triều đình thì giữ lời, ngậm miệng như ngựa đứng trong hàng nghi lễ.
    - Lúc về nơi rừng suối làm dân thường bất hợp tác, làm bậc cao ẩn giấu kín danh tiếng không xuất hiện suốt đời.
    3. Thiên tử và quốc gia cần có nhiều hiền tài ra giúp vua giúp nước:
    - Tấm lòng của Trẫm đối với người hiền: ngồi bên mép chiếu, chăm chú lắng nghe, sớm hôm mong mỏi.
    - Vì sao người hiền chưa có ai đến?
    + Hay là Trẫm ít đức, không xứng để người hiền phò tá?
    + Hay là đương thời loạn lạc, người hiền chưa thể phụng sự vương hầu?
    - Thời cơ đã đến, nhà nước chờ mong:
    + Nhà nước (Triều đại Tây Sơn) vừa mới được trời tạo lập, chính là lúc người quân tử thi thố tài năng.
    + Bước vào thời ổn định, mọi sự đang bắt đầu.
    + Kỉ cương triều đình còn nhiều thiếu sót, công việc biên ải (quốc phòng) phải lo toan.
    + Dân khốn khổ, giáo hoá đạo đức chưa thấm nhuần.
    + Trẫm nơm nớp lo sợ, muôn việc lo toan. Làm nên ngôi nhà lớn không thể chỉ một cành cây, xây nền thái bình không chỉ một kẻ sĩ. Đất nước ta rộng lớn, có truyền thống văn chương, há không có người kiệt xuất giúp rập chính sự buổi đầu cho Trẫm ư?
    4. Chính sách cầu hiền của Trẫm:
    - Ai có tài cho phép được dâng thư tỏ bày công việc.
    - Các quan văn võ được tiến cử; lại cho dẫn đến yết kiến, tuỳ tài bổ dụng.
    - Cho phép được dâng thư tự cử, chớ ngại thế là "đem ngọc bán rao".
    5. Niềm mong ước thiết tha của Trẫm:
    - Trời đất thanh bình, chính là lúc người hiền gặp hội gió mây.
    - Người tài đức nên ra thi thố để cùng hưởng phúc tôn vinh.
    - Bố cáo xa gần, để cùng nghe biết.
    II. Bài văn tự luận, tham khảo.
    Phân tích bài “Chiếu cầu hiền” của
    vua Quang Trung và nói lên những suy nghĩ của em
    Bài làm
    Chiếu là lời của vua ban bố hiệu lệnh cho thần dân. Chiếu là lối văn ứng thế, chỉ khi nào thi đỗ làm quan mới có dịp dùng đến. Chiếu có thể viết bằng cổ thế hay cận thế. Cận thể thì đặt câu theo 2 vế đối nhau, mỗi vế có 2 đoạn: 4 - 6 hoặc 6 - 4 gọi là tứ lục. Cận thể thì vừa có vần vừa có đối. Cổ thế là văn xuôi cổ, tự do, không cần có vần có đối. Bài "Chiếu cầu hiền" của vua Quang Trung được viết theo cổ thể, thỉnh thoảng đôi câu
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓


    CLICK VỀ ĐẦU TRANG