Danh ngôn về cuộc sống

THÔNG TIN GIÁO DỤC 24/24

Hổ trợ trực tuyến

  • (Vô Thường)
  • (ntn_dau)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Ảnh ngẫu nhiên

300pxDen_Mac_Dinh_Chi.jpg 270.jpg DAO_NHUNG.jpg 1.gif Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv 008_Dao_Nhung.jpg N.jpg Songcoichvibietvothuong.jpg Danhngoncuocsong220.jpg NOI_AY_CON_TIM_ME.swf FunPhotoBox1152701303cwzzgf.gif IMG_38591.jpg 1166.jpg WP_20150919_23_00_39_Pro.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    17 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    CHUYÊN ĐỀ ÔN THI VĂN 12

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Web Vô Thường st>
    Người gửi: Đào Thị Nhung (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:37' 17-02-2012
    Dung lượng: 100.2 KB
    Số lượt tải: 133
    Số lượt thích: 0 người

    CHUYÊN ĐỀ VĂN ÔN THI PHẦN 1

    Đề tham khảo ôn thi 1
    Đề ra:
    * Câu 1.
    Bình giảng bốn câu thơ sau đây trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng:
    “Rải rác biên cương mồ viễn xứ
    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
    Áo bào thay chiếu anh về đất
    Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
    * Câu 2.
    Bình giảng bài thơ “Chiều xuân” của Anh Thơ
    * Câu 3.
    Phân tích ý nghĩa của những tương phản trong đoạn tả cảnh Huấn Cao cho chữ trong nhà giam (truyện ngắn "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân).
    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
    Bài làm (Câu 1)
    Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng ra đời đến nay đã trên nửa thế kỉ (1948 - 2006) và ngọn lửa chiến tranh tắt đã lâu rồi, những mỗi lần nhớ và khẽ ngâm lên đoạn thơ sau, lòng ta vẫn bồi hồi xúc động:
    “Rải rác biên cương mồ viễn xứ
    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
    Áo bào thay chiếu anh về đất
    Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
    Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập vào đầu năm 1947 hoạt động và chiến đấu tại Hòa Bình, Sơn La, miền Tây Thanh Hóa, trên một dải biên cương Việt - Lào (Sầm Nứa). Cán bộ, chiến sĩ đoàn binh Tây Tiến phần lớn là những chàng trai Hà Nội giàu lòng yêu nước, dũng cảm, hào hoa. Quang Dũng là một Đại đội trưởng của đoàn binh Tây Tiến. Sau hơn một năm vào sinh ra tử với đồng đội thân yêu tại chiến trường miền Tây, ông được điều động đi nhận nhiệm vụ mới. Tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ “Tây Tiến”. Bài thơ được viết bằng bút pháp lãng mạn, gồm có 4 phần: một, nỗi nhớ chiến trường gian khổ; hai, nhớ những kỷ niệm đẹp về hội đuốc hoa, về những chiều sương Châu Mộc; ba, tượng đài hùng vĩ, bi tráng về “đoàn binh không mọc tóc”; bốn, nói lên nỗi bồi hồi thương nhớ. Đoạn thơ 4 câu trên đây nằm cuối phần ba bài “Tây Tiến”.
    Đoạn thơ tràn ngập một niềm thương xót tự hào. Mỗi một câu thơ như một lời tưởng niệm về đồng đội đã anh dũng hy sinh. Trên một dải biên cương Việt - Lào bao la, nơi viễn xứ “rải rác” bao nấm mồ chiến sĩ vô danh. Các anh đã “gục lên súng mũ bỏ quên đời” trên những nẻo đường hành quân “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”, vô cùng gian khổ. Có người lính trẻ Tây Tiến đã ngã xuống trong những trận đánh dữ dội, nằm lại giữa rừng sâu, ven suối, đỉnh núi, chân đèo… các anh vĩnh viễn “nằm lại” nơi viễn xứ “hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”:
    “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”.
    Đó là cái giá của độc lập, tự do. Vả lại, “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” - xưa nay thời chiến tranh đã mấy ai ra đi còn được trở về? Câu thơ gợi ra bao tình cảm xót thương nhưng không bi lụy. Vì có câu thơ tiếp theo vang lên như một lời thề:
    “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.
    Đó là lời thề cao cả, thiêng liêng. Các anh đã ra biên cương, đến chiến trường với “tình sông núi” (Trần Mai Ninh). Với quyết tâm “chẳng tiếc đời xanh”, các anh nguyện đem xương máu, hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho đất nước và nhân dân. Đó là những anh hùng liệt sĩ trong thời đại Hồ Chí Minh đã cầm tầm vông, giáo mác, mũi súng, lưỡi lê đánh giặc vì lý tưởng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”:
    “Ôi Tổ quốc! Nếu cần, ta chết
    Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”.
    (“Sao chiến thắng” - Chế Lan Viên)
    “Chiến trường đi” với quyết tâm “nhất khứ bất phục hoàn”. Người anh hùng áo vải “ôm đất nước” đã “về đất” một cách thanh thản, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, yên nghỉ trong lòng Mẹ, giấc ngủ ngàn thu. Chẳng có da ngựa bọc thây như các tráng sĩ ngày xưa, mà chỉ có “áo bào thay chiếu anh về đất” rất bình dị, tự hào. Quang Dũng đã sử dụng hai chữ “về đất” rất sáng tạo, gợi tả một sự hy sinh cao cả và bất tử của những liệt sĩ anh hùng trong thời đại mới.
    Các anh “về đất” giữa chiến trường miền Tây trong một khung cảnh vô cùng bi tráng:
    “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
    Sông Mã như một chứng nhân lịch sử. Tiếng thác sông Mã “gầm lên” mang ý nghĩa tượng trưng cho Tổ quốc và nhân dân tiễn đưa các liệt sĩ
    Avatar
    CHUYÊN ĐỀ ÔN THI VĂN 12
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓


    CLICK VỀ ĐẦU TRANG