BÀI THƠ VỀ HẠNH PHÚC

Bùi Minh Quốc (Dương Hương Ly)
(Tưởng nhớ XQ thân yêu)
I
Thôi em nằm lại
Với đất lành Duy Xuyên
Trên mồ em có mùa xuân ở mãi
Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên.
Trời chiến trưòng không một phút bình yên
Súng nổ gấp. Anh lên đường đuổi giặc
Lấy nỗi đau vô cùng làm sức mạnh vô biên
Bước truy kích đạp trăm rào gai sắc
Ôi mũi lê này hôm nay sao sáng quắc
Anh mất em như mất nửa cuộc đời
Nỗi đau anh không thể nói bằng lời
Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy
Những viên đạn quân thù bắn em, trong lòng anh sâu xoáy
Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi
Như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc.
Nhưng em ạ, giây phút này chính lúc
Anh thấy lòng anh tỉnh táo lạ thường
Nhằm thẳng quân thù, mắt không giọt lệ vương
Anh nổ súng.
II
Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng
Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn chưa ra
Cho đến ngày cất bước đi xa
Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt.
Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt
Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng
Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng
Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt
Bao giốc cao em cần cù đã vượt
Và mỗi lần ngồi nghỉ, em nhìn anh
Em nói tới những điều em định viết
Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép
Con sông Giàng gầm réo miên man
Nước lũ về... Trang giấy nhỏ mưa chan
Em vẫn viết: lòng dạt dào cảm xúc.
Và em gọi đó là hạnh phúc...
Nhớ chăng em, ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân
Em lên đường phơi phới bước chân
B.52 bom nghìn tấn dội
Kìa dáng em băng rường bước vội
Vẫn nụ cười tươi tắn ấy trên môi.
Thôn 6 Bình Dương bãi cát sóng dồi
Nắng long lanh trong mắt người bám biển
Giặc mới lui càn khi em vừa đến
Bà mẹ già kể chuyện chặn xe tăng
Quanh những bờ dương bị giặc san bằng
Đã lại mở những chiến hào gai góc
Những em bé, dưới mưa bom, vẫn đi làm đi học
Những vồng khoai ruộng lúa vẫn xanh tràn
Trong một góc vườn cháy khét lửa Na-pan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc.
Và em gọi đó là hạnh phúc...
Như chồi biếc gặp mưa xuân, như chim én say trời
Em mải mê, đi giữa bao người
Xuyên Thọ, Xuyên Châu, Xuyên Hòa, Xuyên Phú...
Những mảnh đất anh hùng quyến rũ
Phút giây đầu đã ràng buộc đời em
Như tự lọt lòng từng biết mấy thân quen
Em nhỏ giao liên, mẹ hiền trụ bám
Cô du kích dịu dàng dũng cảm
Sông Thu Bồn hằng xao động tâm tư
Có tiếng hò như thực như hư
Em đã đến, tắm mình trong sóng nước
Sông kể em nghe chuyện đôi bờ thủa trước
Em mở mắt nhìn kinh ngạc những làng thôn
Và kêu lên khi đượ thấy cội nguồn
Mỗi sự tích trên đất này thắng Mỹ.
Em đã gặp bao anh hùng dũng sĩ
Đã cùng họ xẻ chia
Cọng rau lang bên miệng hố bom đìa
Phút căng thẳng khi vòng vây giặc siết
Nỗi thống khổ ngút ngàn không kể hết
Của một thời nô lệ đau thương
Em lớn lên bên họ can trường
Giữa bom gào đạn réo
Em đã thấy những tâm hồn tuyệt vời trong trẻo
Những con người như ánh sáng lung linh
Mỗi đêm ra đi giản dị hiến mình
Để làm nên buổi mai đầy nắng
Em bối rối, em sững sờ đứng lặng
Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên
Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc.
Và em gọi đó là hạnh phúc...
III
Em ra đi chẳng để lại gì
Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
Và anh biết khi bất thần trúng đạn
Em đã ra đi với mắt cười thanh thản
Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
Bởi biết mình có mặt ở tương lai.
Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống
Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu
Em trong anh là mùa xuân náo động
Từ phút này càng rực rỡ bao nhiêu.
8 tháng 3 - 1969
6 tháng 9 - 1969
BMQ
Nhà thơ Bùi Minh Quốc: "Thôi em nằm lại với đất lành Duy Xuyên..."
Những cuộc kiếm tìm vô vọng...
![]() |
|
Nhà văn Nguyên Ngọc tại lễ tưởng niệm nhà văn Dương Thị Xuân Quý. |
- Thưa nhà thơ Bùi Minh Quốc, lần đầu tiên ông tìm di hài của người bạn đời - bạn văn thân yêu của mình là khi nào ?
Đó là năm 1983. Gần 8 năm sau ngày thống nhất đất nước, tôi mới thực hiện cái điều luôn canh cánh trong lòng. Sự chậm trễ ấy có nhiều nguyên do. Khi mới giải phóng, vùng quê Duy Xuyên nói chung, thôn Thi Thại nói riêng, còn đầy rẫy bom mìn các loại chưa được tháo gỡ. Rồi chẳng bao lâu sau đó, tôi ra Hà Nội công tác, không có điều kiện trở lại Duy Xuyên để tìm mộ Xuân Quý. Mãi đến khi về làm việc tại Hội Văn học - nghệ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ), tôi mới thực hiện tâm nguyện của mình. Lần đầu tiên đi tìm mộ Xuân Quý chỉ có anh Đoàn Xoa, anh Nguyễn Bá Thâm và tôi. Được sự giúp đỡ tận tình của những người từng có một thời sống và chiến đấu cùng Xuân Quý, cũng như bà con ở thôn Thi Thại, chúng tôi đã đào bới cả một vùng rộng tại khu vực Giếng Cạn, nhưng rất buồn là không tìm thấy gì cả...
- Và rồi sau đó...?
Lần thứ hai, tôi cùng anh Nguyễn Bá Thâm về lại Duy Xuyên tìm mộ Xuân Quý vào năm 1995. Lúc bấy giờ nhiều người cho tôi biết, ông Năm Chiến là người “có khả năng đặc biệt” trong việc tìm kiếm mộ liệt sĩ. Tôi đến Bình Sa chầu chực cả ngày trời mới được ông Năm Chiến hướng dẫn tìm mộ Xuân Quý bằng cách chỉ vẽ trên giấy. Nhờ người đào bới khắp nơi trong khuôn viên vườn nhà anh Võ Bắc nhưng vẫn không có kết quả gì !
- Hai lần đi tìm kiếm, hai lần hy vọng để rồi thất vọng. Tâm trạng ông lúc đó thế nào ?
Việc tìm kiếm mộ Xuân Quý không được như mong muốn, tôi rất hoang mang. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ tin rằng, biết đâu đấy... Vì vậy, tôi lại nhờ ông Tám- cũng là một người “có khả năng đặc biệt”, giúp tìm mộ Xuân Quý. Ông nhận lời. Và theo sự chỉ dẫn của ông, tôi thuê người đào bới chung quanh nơi Xuân Quý hy sinh. Đào rộng và đào sâu như một cái ao. Thế nhưng, kết quả vẫn giống như hai lần trước. Với tôi, mọi hy vọng thế là hết ! Năm 1996, được sự giúp đỡ của gia đình anh Võ Bắc cũng như bà con trong thôn xóm và chính quyền địa phương, tôi dựng Bia tưởng niệm Xuân Quý ở nơi cô ấy đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bia tưởng niệm là một khối đá trắng cao gần 3m, do anh Phạm Hồng khắc chân dung cùng đôi dòng tóm tắt về cuộc đời và trường hợp hy sinh của Xuân Quý...
Và một ngày thỏa nỗi đợi mong !
![]() |
|
Tác giả hỏi chuyện nhà thơ Bùi Minh Quốc.. |
- Thế là... ?
Năm 2000, các cháu bên ngoại cùng với ông anh rể Xuân Quý lại nhờ ông Nhã - cũng là một người “có khả năng đặc biệt” ở Thành phố Hồ Chí Minh, giúp tìm mộ Xuân Quý. Thú thật, bấy giờ tôi không tin tưởng vào những người “có khả năng đặc biệt” nữa ! Dẫu vậy, chiều theo ý nguyện của bà con họ hàng, tôi lại về Duy Xuyên tìm mộ Xuân Quý lần thứ tư. Qua điện thoại, ông Nhã từ Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn chúng tôi đào bới chung quanh khu vực dựng Bia tưởng niệm. Và lần này chúng tôi tìm thấy một tấm vải dù ở cách Bia tưởng niệm không xa. Tấm vải dù ấy bị vùi lấp trong lòng đất hơn ba mươi năm nhưng vẫn chưa bị mủn nát theo thời gian. Nhiều người từng sống và chiến đấu với Xuân Quý trong những năm tháng gian nan ác liệt cho biết, đấy là tấm vải dù mà Xuân Quý thường dùng để ngụy trang...
- Kết quả từ cuộc tìm kiếm lần thứ tư có giúp ông lấy lại niềm tin ở những người “có khả năng đặc biệt” ?
Không! Tôi vẫn không tin tưởng là mấy! Lúc bấy giờ, ở ngoài Bắc có bà Phan Thị Bích Hằng nổi tiếng với “khả năng đặc biệt” trong việc tìm kiếm mộ liệt sĩ. Gia đình tôi cũng đã nhờ bà Bích Hằng tìm kiếm mộ người thân. Và bà đã tìm được mộ ông nội tôi. Nhưng với mộ Xuân Quý thì bà cũng phải... bất lực. Bà khuyên tôi không nên tìm kiếm mộ Xuân Quý nữa. Hai bên nội ngoại, sau khi bàn bạc cũng đã nhất trí như vậy.
- Đôi bên nội ngoại cũng như bản thân ông đã “quyết” như thế, tại sao lại có cuộc tìm kiếm lần thứ năm với sự giúp đỡ của người “có khả năng đặc biệt” là ông Đặng Xuân Ba ?
Mọi chuyện bắt đầu từ anh Nguyễn Chung An, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học- nghệ thuật Lâm Đồng. Năm 2005, anh An gặp tôi và bảo: “Ông Đặng Xuân Ba là người “có khả năng đặc biệt”. Ông ấy đã tìm kiếm được rất nhiều hài cốt liệt sĩ. Và ông ấy có ý nguyện giúp ông tìm mộ chị Xuân Quý...”. Sự nhiệt tình của anh An và ông Ba làm tôi cảm động. Song trong tôi vẫn cứ thấy hoài nghi... Chính vì thế mà tôi lần lữa mãi. Đầu thu năm nay, Đại tá Mai- nguyên là sĩ quan quân đội nghỉ hưu, làm trưởng nhóm đi tìm mộ liệt sĩ ở đèo An Khê và vùng tây Duy Xuyên. Tất nhiên, không thể thiếu người “có khả năng đặc biệt” là ông Đặng Xuân Ba. Đại tá Mai báo cho tôi biết. Và tôi liên hệ với ông Ba và cả nhóm để nhân chuyến đi này, về lại Duy Xuyên tìm mộ Xuân Quý.
- Ông có thể kể tỉ mỉ về chuyến đi tìm lần thứ năm ?
Vâng ! Ngày 1-8, Đại tá Mai dẫn cả nhóm lên đèo An Khê. Còn tôi cũng lặng lẽ đón xe về Quảng Nam. Thú thật, đi tìm mộ Xuân Quý lần này tôi cũng không tin tưởng lắm. Cho nên tôi không báo cho gia đình hai bên nội ngoại biết. Khi đến Quảng Nam, tôi cũng không nói với ai, ngoài anh Nguyễn Bá Thâm. Sáng 3-8, tôi liên lạc với Đại tá Mai và gặp cả nhóm tại thị trấn Hà Lam - Thăng Bình. Và chúng tôi về Duy Thành, đến nhà anh Bắc. Ông Ba hỏi anh Bắc về các đường giao thông hào cũ, về vị trí tìm được tấm vải dù và quan sát toàn bộ khuôn viên vườn nhà. Rồi ông Ba bảo tôi bày hoa quả, thắp hương đèn khấn vái xin keo. Cả hai lần xin, hai đồng tiền vẫn không sấp ngửa. Đại tá Mai bảo tôi phải quỳ xin thì mới được. Từ trước tới nay, cúng vái Xuân Quý tôi chỉ đứng khấn rồi cúi người thắp hương. Dẫu vậy, tôi vẫn làm theo lời Đại tá Mai. Và kỳ lạ thay, lần xin keo thứ ba được ngay. Tôi mừng quá !...
Lúc bấy giờ cũng đã trưa, chúng tôi tạm dừng mọi việc để đi ăn cơm. Chúng tôi trao đổi với gia đình có người thân hy sinh ở vùng Tây Duy Xuyên và họ đồng ý nên tiến hành tìm mộ Xuân Quý trước. Cơm nước xong, chúng tôi về lại nhà anh Bắc. Tôi bày hoa quả, đốt hương đèn khấn vái xin keo lần nữa. Được ngay. Ông Ba chỉ chỗ cắm que chuẩn bị đào bới. Nhưng rồi đột nhiên ông bảo chúng tôi dừng lại. Ông đi tới đi lui với sắc mặt lạ lắm. Một lúc sau, ông bảo chúng tôi đào bới cách chỗ vừa cắm que khi nãy khoảng 2m. Ông khoanh vùng diện tích đào bới là 2m x 0,7m. Và ông bảo đấy mới chính là nơi chôn cất hài cốt Xuân Quý. Khi đào sâu xuống chừng 1m thì phát hiện một số mẩu xương người. Tiếp tục đào thêm 0,4m nữa thì tìm được chiếc kẹp tóc bằng inox. Bóc gỡ, lau chùi đất cát bám trên chiếc kẹp tóc, tôi đọc được dòng chữ “Tặng chị X. Quý”, bên dưới là dòng chữ “EI”.
- Sau bao nhiêu năm tìm kiếm với bao nhiêu lần thất vọng, bây giờ... tâm trạng ?
![]() |
|
Di vật của liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý vừa tìm được. |
Lúc đó, tôi cầm chiếc kẹp tóc trên tay với một tâm trạng không sao diễn tả được ! Mừng vui, xúc động, bồi hồi... Tôi vội gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị Một là Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, hỏi xem “EI” có phải là chị không ? Nhưng chị Một không nhớ được vì đã lâu quá rồi. Trong khi đó, anh em tiếp tục đào bới và thu nhặt được hai chiếc cúc áo màu xanh cùng hài cốt của một thi thể hoàn chỉnh nhưng đã bị mủn nát gần hết, chỉ còn lại một ít xương sọ, xương tứ chi... Vị trí tìm được mộ Xuân Quý cách Bia tưởng niệm do tôi dựng năm 1996 khoảng 30m về hướng tây nam. Vậy là sau 37 năm kể từ ngày Xuân Quý hy sinh và sau 23 năm kể từ ngày tôi cùng các anh Đoàn Xoa, Nguyễn Bá Thâm đi tìm mộ Xuân Quý lần đầu tiên, bây giờ tôi mới tìm thấy nơi chôn cất Xuân Quý... !
- Vì sao ông quyết định cải táng người bạn đời - bạn văn của mình ngay tại Bia tưởng niệm ?
Khi Xuân Quý hy sinh, tôi đã viết “Bài thơ về hạnh phúc” với câu thơ mở đầu: “Thôi em nằm lại/ Với đất lành Duy Xuyên/ Trên mồ em có mùa xuân ở mãi...”. Và qua trao đổi với gia đình hai bên nội ngoại, mọi người cũng nhất trí với ý nguyện của tôi là hãy để Xuân Quý yên nghỉ “với đất lành Duy Xuyên”. Tâm nguyện của tôi là mong ước tìm được hài cốt của Xuân Quý. Và bây giờ tôi đã toại nguyện... Tôi vô cùng biết ơn mọi người, nhất là ông Đặng Xuân Ba, đã tận tình giúp tôi tìm được hài cốt người bạn đời - bạn văn của mình là nhà văn - nhà báo liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý...
|
Năm 1961, nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhà văn Dương Thị Xuân Quý quen nhau và yêu nhau. Năm 1966, hai người cưới nhau. Năm 1967, nhà thơ Bùi Minh Quốc xung phong vào chiến trường miền Nam, công tác tại Ban Văn nghệ Khu V, nổi tiếng với tập thơ “Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ” với bút danh Dương Hương Ly. Tháng 4-1968, nhà văn - nhà báo Dương Thị Xuân Quý cũng xung phong vào chiến trường miền Nam, công tác cùng cơ quan với nhà thơ Bùi Minh Quốc. Đầu năm 1969, Dương Thị Xuân Quý về Duy Xuyên sống, chiến đấu cùng anh em du kích địa phương để tìm hiểu thực tế viết văn. Ngày 8-3-1969, chị đã anh dũng hy sinh trong một trận chống càn, khi tuổi đời mới vừa 28. Những sáng tác của chị sau này được tập hợp in thành tập “Hoa rừng” được dư luận bạn đọc đánh giá cao. Năm 2006 này, chị có tên trong danh sách được đề nghị trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học vì đã có nhiều đóng góp cho nền văn học cách mạng Việt Nam. |
N.Đông An
Đặng Duy Hà @ 22:29 18/11/2010
Số lượt xem: 2471
- Những bài thơ hay về thầy, cô (12/11/10)
- Vô Thường (11/11/10)
- TÌNH YÊU KHÔNG CÓ TUỔI (07/11/10)
- GỌI THẦM TRONG NỔI NHỚ (04/11/10)
- EM VÀ TÔI (04/11/10)




Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên
Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc.
Tôi từng nhìn gương mặt rạng ngời của một ông bố đạp xích lô chở cô con gái rượu đi lãnh phần thưởng và học bổng dành cho học sinh nghèo hiếu học. Trong những lần theo đoàn đi phát quà Cây mùa xuân cho các hộ nghèo, tôi đã thấy niềm vui lấp lánh hạnh phúc trong mắt những người được nhận quà dù quà chỉ là mươi ký gạo, chục gói mì tôm, chai dầu ăn, bịch bột ngọt...
Hạnh phúc là gì ? Đã từ lâu các nhà hiền triết, các học giả đã đưa ra nhiều định nghĩa về hạnh phúc nhưng chưa có câu nào làm vừa lòng tất cả mọi người. Khi còn trẻ và mới biết yêu, tôi tâm đắc với câu: "Hạnh phúc là có một công việc để làm, một điều để ước mơ, một người để yêu". Rồi thời gian qua, nhiều công việc bị đứt đoạn buộc phải thay đổi, áp lực công việc khiến đôi khi bị stress mệt nhoài, nhiều ước mơ cố gắng mãi không thành, vài mối tình dở dang ghi sẹo trong tim, tôi nhận ra câu trên chưa hẳn là chân lý. Rồi tôi cũng đạt được vài thứ trong đời: vợ đẹp, con ngoan, thành đạt và địa vị, nhưng so ra thì cũng chẳng bằng ai. Tôi chọn câu "Hạnh phúc là hài lòng với những gì mình có". Rõ ràng, "vô cầu thì vô khổ"! Khi đã bằng lòng với cuộc sống, không còn truy cầu, người ta đã tự giải thoát khỏi sự dằn vặt vì những ham muốn, khát khao, dục vọng của bản thân. Thế nhưng... đường đời có bao giờ bằng phẳng, bệnh tật, tai họa hay bất chợt ập đến gây đau khổ cho người đã khòng còn mong cầu gì thêm! Xem ra, "Hạnh phúc chỉ đến khi con người được bình an và tinh thần được thanh thản, yên tịnh". Tôi bắt đầu học hỏi triết thuyết của các tôn giáo, ăn kiêng và tự tiết giảm những nhu cầu của bản thân để cầu đạt sự bình an. Tôi đã cảm nhận được hạnh phúc vì khi sống giản dị, giảm hẳn các nhu cầu thì lúc nào cũng thấy mình thư thái, không bị thúc giục, truy cầu và tâm hồn tôi ngày càng thanh thản.
Công việc đưa đẩy khiến tôi nhận giải đáp thắc mắc, tư vấn chuyện buồn vui cho độc giả. Đa số là chuyện khổ buồn nên tâm hồn tôi lại xáo trộn bất an theo. Khó mà "an nhiên tự tại" giữa bao nỗi khổ của người khác để trốn vào cõi tâm linh tận hưởng niềm hạnh phúc cá nhân ích kỷ. Chỉ những người vô tâm, theo thuyết "mackeno" (mặc kệ nó) mới làm được điều này. Tôi cố gắng dành thời gian, chia sẻ hiểu biết và kinh nghiệm để xoa dịu phần nào nỗi khổ buồn của những độc giả đã tin tưởng và nhờ đến chúng tôi.
Từ thuở ấu thơ chúng ta đã quen sống trong nhắc nhở. Trời vừa chuyển gió heo may, mẹ đã nhắc ta mặc thêm áo ấm. Ta vừa có một bạn mới, bố đã nhắc ta cẩn thận kẻo bị lừa. Bạn vừa gặt hái một thành công chưa kịp cười vui sung sướng, những người quen quan tâm tới bạn đã nhắc nhở ngay: chớ kiêu căng tự mãn! Ngay cả khi bạn đắm mình trong hạnh phúc, bạn cũng thường tự nhủ mình: chớ vui say quá đà, biết đâu tai ương sẽ ập đến...
Chúng ta quen sống trong nhắc nhở. Nỗi lo sợ nhìn thấy và nỗi lo sợ không nhìn thấy như đám mây đen luôn luôn lơ lửng trên đầu chúng ta.
Đời người ai mà chẳng có tai ương vận hạn. Thực ra trên đời này không ít người đã rèn luyện bộ thần kinh vững chắc đón chờ vận hạn tai ương đến, nhưng đáng tiếc con người chưa biết tìm niềm vui trong khoảng thời gian giữa hai đợt vận hạn tai ương luôn luôn rình rập. Chúng ta chú ý quá nhiều tới việc đối phó với vận hạn tai ương mà quên tự nhắc mình cần tận hưởng hạnh phúc.
Xin các bạn từ nay hãy chú ý tới niềm vui hạnh phúc.
Hạnh phúc có cần nhắc nhở báo trước không?
Nhắc nhở cẩn thận kẻo vấp ngã! Nhắc nhở chú ý đường trơn! Nhắc nhở cẩn thận kẻo bị lừa! Nhắc nhở chữ vinh liền chữ nhục... Ôi! Các nhà hiền triết đã nhắc nhở cảnh tỉnh chúng ta hàng vạn lẻ một lần, nhưng chưa bao giờ nhắc nhở chúng ta hãy thụ hưởng niềm vui hạnh phúc.
Có thể các bậc hiền triết, các bậc trưởng lão cho rằng, hạnh phúc chẳng cần nhắc nhở báo trước cũng chẳng chạy đi đâu được. Cũng có thể họ cho rằng, tự mỗi người đều biết quý trọng hạnh phúc của mình chẳng cần tới ai nhắc nhở và báo trước. Cũng có thể họ quá tôn sùng với lý tưởng cao siêu nên cho rằng hạnh phúc chẳng đáng quan tâm đến. Họ thường đứng trên vách đá cheo leo chỉ dẫn, nhắc nhở và cảnh tỉnh chúng ta né tránh tai ương sắp đến.
Nhưng khoảng thời gian trước và sau tai ương là gì?
Đó chính là hạnh phúc.
Thụ hưởng hạnh phúc đòi hỏi phải học tập, khi hạnh phúc sắp tới cần phải nhắc nhở hoặc dự báo trước. Con người có thể tự nhiên học được sự thụ hưởng của giác quan, nhưng con người không thể có khả năng bẩm sinh nắm biết được âm luật của hạnh phúc. Niềm vui của linh hồn và cảm nhận khoan khoái của giác quan là một cặp anh em sinh đôi, lúc quyến luyến nhau, lúc xa rời nhau.
Hạnh phúc là một loại hình rung động của tâm linh, nó giống như đôi tai nghe âm nhạc, cần không ngừng rèn luyện.
Nói theo triết lý, hạnh phúc là khi hết khổ đau. Tần số xuất hiện của hạnh phúc không ít như chúng ta nghĩ. Con người ta thường đứng nhìn cỗ xe kim mã hạnh phúc đi khuất xa rồi mới nhặt sợi lông ngựa vàng vương trên mặt đất và bảo rằng: ồ! Té ra ta đã nhìn thấy hạnh phúc.
Con người ta thường thích hồi tưởng lại dư vị của hạnh phúc, nhưng lại thường bỏ qua những thời khắc hạnh phúc tỏa hương thơm. Những lúc đó chúng ta thường vội vã bận bịu với công việc gì đó.
Trên Trái đất này, người ta thường dự báo bão xa bão gần; dự báo mưa đá; dự báo nạn châu chấu; dự báo động đất... nhưng chưa ai dự báo hạnh phúc.
Thực ra, cũng như vạn vật khác trên thế gian này, hạnh phúc cũng có những dấu hiệu báo trước.
Hạnh phúc thường mông lung, hạnh phúc rất công bằng dâng tỏa hương thơm tới chúng ta. Bạn chớ trông chờ hạnh phúc đến với bạn một cách ồn ào, phần lớn hạnh phúc đến với chúng ta đều lặng lẽ. Bạn cũng chớ nghĩ rằng hạnh phúc có thể tuôn trào xối xả như ta mở to vòi nước mà cần tĩnh tâm bình lặng thể nghiệm vị ngọt ngào của hạnh phúc.
Hầu hết mọi niềm hạnh phúc đều bình dị, hạnh phúc không giống như quả pháo sáng vạch một đường đỏ rực trên bầu trời cao thẳm. Hạnh phúc khoác chiếc áo choàng bình dị và bao trùm hơi ấm lên chúng ta.
Hạnh phúc không thích ồn ào, hạnh phúc thường xuất hiện lặng lẽ. Nó là mẩu bánh mì trong lúc đói lòng, nó là ánh mắt đồng cảm trong cơn hoạn nạn, là một lần vuốt ve vụng về của người cha, là một mảnh thư tình mềm mại của bạn gái... Đó là những niềm hạnh phúc nghìn vàng khó mua nổi, đó là những viên hồng ngọc rực rỡ gắn trên chiếc khăn lụa đã phai mầu.
Hạnh phúc có lúc trang điểm diễm lệ tinh nghịch đến với chúng ta. Dịp may, tình bạn, thành công, đoàn tụ..., những niềm vui đó gần giống như hạnh phúc nhưng không phải là hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ mượn chiếc áo khoác ngoài của những niềm vui đó rồi e lệ bước đến, bước đến thật gần ta. Khi ta gỡ bỏ chiếc khăn voan che mặt mới phát hiện hạnh phúc là cả một nội hàm sâu sắc. Hạnh phúc có lúc rất ngắn ngủi, không dài dằng dặc như khổ đau. Nếu ta chia khổ đau và hạnh phúc trong suốt cuộc đời con người thì thể tích của khổ đau là một khối khổng lồ, còn hạnh phúc chỉ là một mẩu quặng nhỏ xíu. Nhưng kim nam châm của cuộc đời sẽ chỉ về phía hạnh phúc, vì hạnh phúc là một thỏi vàng vô giá.
Hạnh phúc có mặt cắt hình thang, hạnh phúc có thể rộng mở cũng có thể thu nhỏ lại, chủ yếu là bạn có trân trọng hạnh phúc không?
Chúng ta hãy trân trọng hạnh phúc. Khi hạnh phúc đến, bạn hãy say sưa tận hưởng từng giây phút. Khoa học hiện đại đã chứng minh, kết quả của việc làm tập trung tư tưởng hơn hẳn kết quả những việc làm lơ đãng.
Khi mùa xuân đến, chúng ta hãy tự nhủ lòng: đây là mùa xuân, trong lòng chúng ta sẽ trào dâng những chồi xanh tình cảm.
Khi hạnh phúc đến, chúng ta hãy tự nhủ lòng: cần ghi nhớ thời khắc đáng quý đó, hạnh phúc sẽ quyến luyến mãi với chúng ta.
Như vậy, cuộc đời chúng ta có rất nhiều hạnh phúc.
Vì thế, khi được mùa, chúng ta hãy cùng bè bạn nhảy múa hát ca tận hưởng niềm vui được mùa. Hạt lúa bội thu đã đền đáp mồ hôi lao động của chúng ta, chúng ta có quyền đắm mình trong niềm vui đó. Hãy nhanh chóng xay lúa để nướng chiếc bánh mì thơm phức hoặc thổi nồi cơm gạo mới ngạt ngào...
Vì thế, khi chúng ta từ chân trời góc biển trở về sum họp với người thân, xin đừng vội nghĩ tới giờ phút chia ly sau đó, bởi lẽ trong những tháng ngày dài dằng dặc tiếp theo còn có vô số đêm khuya vắng vẻ để ta day dứt với nỗi buồn xa xứ. Hãy quý trọng từng giây phút sum họp với người thân, hãy biến những giây phút đó thành những giọt rượu cồn để đốt cháy lên ngọn lửa xanh của hạnh phúc. Chúng ta hãy nâng cốc cùng nói rằng: chúng ta đang hạnh phúc.
Vì vậy, khi chúng ta quây quần bên bố mẹ già, dù tóc bố mẹ ta đã bạc phơ, sức khỏe các cụ đã yếu lắm rồi, nhưng bạn hãy cam đảm tự nói rằng: tôi đang rất hạnh phúc. Vì sao vậy? Vì trời đất tạo hóa khôn lường, ắt có ngày bố mẹ bạn sẽ mãi mãi đi xa. Lúc đó bạn sẽ nhớ lại và ao ước giây phút tuyệt vời của hiện tại.
Hạnh phúc không cùng dạo bước sánh vai với tài sản, địa vị, uy tín, hôn nhân... của bất kỳ ai. Hạnh phúc chỉ là cảm giác trong tâm linh của bạn.
Vì vậy, khi trong tay bạn không có gì, bạn vẫn có thể nói rằng: tôi rất hạnh phúc, bởi lẽ bạn còn có một cơ thể khỏe mạnh. Và khi bạn không còn khỏe mạnh nữa, bạn vẫn có thể mỉm cười nói rằng: tôi rất hạnh phúc, bởi lẽ bạn vẫn còn một trái tim không ngừng đập. Thậm chí khi trái tim bạn đã ngừng đập, bạn ta vẫn có thể lớn tiếng nói với vũ trụ rằng: tôi rất hạnh phúc, tôi đã từng sống trên Trái đất này.
Thường xuyên tự nhắc nhở mình chú ý tới hạnh phúc sẽ giống như những ngày đông giá thường xuyên ngắm Mặt trời, chúng ta sẽ thấy lòng mình luôn ấm áp...
Em xin duoc chia se voi Chi.Nguoi Chi dau yeu !
Như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc.
Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu